View Full Version : Văn hóa ẩm thực xứ nghệ
Từ thượng nguồn của đất Nghệ An như sông Giăng, sông Hiếu…
Từ thượng nguồn của đất Hà Tĩnh như Ngàn Phố, Ngàn sâu…
Rồi dòng sông Minh chảy ra từ trong lòng núi Hồng Lĩnh…
Tất cả đều đổ về sông Lam, cho nên trong lịch sử xa xưa Sông Lam mới có tên gọi là sông Cả. Những làng mạc xóm thôn dọc hai bên bờ từ thượng nguồn cho tới hạ nguồn của dòng sông Cả đều thuộc đất Hoan Châu, lịch sử đặt tên gọi là Xứ Nghệ.
Cho dù bây giờ đã chia thành hai tên gọi Nghệ An và Hà Tĩnh, bờ bắc sông Cả là đất Nghệ An, bờ Nam sông Cả có cả Nghệ An và Hà Tĩnh. Cho dù như thế thì Nghệ an và Hà tĩnh từ xa xưa đã chung một dòng lịch sử, một dòng văn hóa, một làn điệu dân ca mênh mang tình người, lan toả đôi bờ trên một dòng sông, thì tất yếu cho đến ngày nay cũng còn mãi chung một dòng hương vị ẩm thực. Văn hóa Xứ Nghệ rất riêng, nên hương vị ẩm thực cũng rất riêng, nó không hoa lá như ẩm thực đất Bắc, không cầu kỳ kiêu sa như ẩm thực xứ Huế, cũng không ngọt ngào như ẩm thực Sài Gòn.
Ẩm thực Xứ Nghệ đậm đà, mộc mạc, như tính cách người Xứ Nghệ. Người Xứ Nghệ tuy mang vẻ ngoài thô kệch, quê mùa, nhưng tâm hồn lãng mạn, nên hương vị ẩm thực Xứ Nghệ cũng thi vị như tâm hồn người Xứ Nghệ. Cái riêng của văn hóa ẩm thực Xứ Nghệ nổi bật ở phong cách gia vị rất khác lạ. Bạn có thể bắt gặp người dân kho thịt gà với một nắm hành tăm, vài cái lá chanh; Bạn cũng có thể nhìn thấy nhân dân sử dụng chỉ với một nắm xơ mít và lưng chén tương lúc họ kho cá… với sự thông minh và khéo léo, người phụ nữ Xứ Nghệ đã biến những thứ tưởng như không thể ăn được thành món ăn lạ miệng, không nơi nào có như nham củ chuối, nhút mùng, nhút mít…
Thi vị của Ẩm thực Xứ Nghệ người đời không thể không công nhận, vì từ rất lâu, nó đã gắn liền với thơ ca :
“Ai ơi cà Xứ Nghệ
Càng mặn lại càng dòn
Nước chè xanh Xứ Nghệ
Càng chát lại càng ngon
Tình Xứ Nghệ không mau
Nhưng bén rồi sâu lắng
Quen Xứ Nghệ quen lâu
Càng tình sâu nghĩa nặng…”
Ẩm thực Xứ Nghệ còn được lịch sử ghi nhận như “Cá rô Bàu Nón” là món ăn một thời chỉ dành để tiến cung. Và cũng chính món “cá kho tương Nam Đàn” ấy trong bài thơ “Khóc Bác” của người nuôi quân đã làm rơi lệ biết bao nhiêu người con Việt Nam kính yêu Bác Hồ Chí Minh.
“Đâu ngại đường xa, chuyện nắng mưa
Từng nhen ngọn lửa, đứng bên lò
Mười năm cấp dưỡng, con hằng ước
Được bữa làm cơm đón Bác Hồ.
Biết Bác không quên miếng cà dòn
Quên cơm độn sắn, cá kho tương
Con từng nghỉ phép về quê Bác
Học muối tương cà, kho cá ngon.
Cà pháo hôm nay mặn muối rồi
Cá vàng màu nghệ, bếp đương sôi,
Bỗng tin Bác mất, trời mưa lớn
Đôi đũa con cầm bỗng tụt rơi!
…”
Còn nhiều nữa những điều tôi muốn nói về Ẩm thực Xứ Nghệ. Nhưng có lẽ rồi tôi sẽ từ từ giới thiệu chi tiết hơn với các bạn cùng với công thức chế biến của mỗi món ăn. Vâng! Nếu bạn muốn khám phá sự mới lạ, mời bạn ghé thăm Xứ Nghệ chúng tôi, bạn sẽ được tận hưởng những hương vị mà bạn chưa từng gặp ở vùng quê khác !
CANH GIAM XỨ NGHỆ
Rạm : cua nước lợ (giống con cua đồng, nhưng ở vùng cửa biển)
Rau tập tàng : bao gồm dền cơm dại, mùng tơi, rau đay, bù ngọt. rau rệu
Nguyên liệu :
. Giam hoặc rạm 1 KG
Rau tập tàng : 500 gr
Lá lốt : 10 cái
Mắm tôm : 01 thìa cà phê
Gia vị : 01 củ hành tím, 02 tép tỏi, muối bột canh, 02 thìa canh dầu ăn, ớt tươi 1/2 trái
Cách làm :
Sơ chế giam : ngâm giam vô trong chậu nước gạo pha với muối chừng 30 phút chờ cho giam bớt quậy, dùng một cái bàn chải chà sạch bùn đất bám bên ngoài, sau đó rửa sạch.
Gỡ bỏ vỏ và yếm giam cho vào cối giã nhuyễn với một nhúm muối, đổ vào một tô nước lã, bỏ mắm tôm vô quậy đều rồi đem lọc qua rây vắt bỏ bã.
Gỡ lấy phần gạch có màu vàng bên trong vỏ giam để riêng.
Rau tập tàng nhặt lấy phần lá, rửa sạch, thái sợi. Hành, tỏi bóc vỏ, và ớt rửa sạch đập dập, băm nhỏ
Bắc chảo lên bếp, để chảo nóng già cho dầu ăn vào phi thơm 1/2 hỗn hợp hành- tỏi-ớt, trút tô nuớc cua đã lọc vô đun sôi, khi gần sôi, thịt cua sẽ nổi lên, kết thành mảng, cần chú ý canh chừng giảm lửa và mở vung đúng lúc, không để bị sôi trào tảng thịt cua sẽ vỡ vụn, khi thịt giam đã chín, vớt tảng thịt cua để riêng ra đĩa.
Bắc một cái chảo khác, phi thơm chỗ hành tỏi còn lại, cho gạch cua vào phi vàng, trút vô nồi canh. Cho rau vào, nêm gia vị vừa ăn, tắt bếp, cho lá lốt thái chỉ vào
Múc canh ra tô, để thịt cua lên trên, rắc thêm tiêu.
Vài bí quyết nhỏ mách bạn :
Chọn cua : lật ngược phần bụng con cua lên, nếu cua chắc sẽ có màu trắng vàng đục, bóp thấy vỏ cứng, con cua lúc trăng sáng sẽ không chắc, thường thì tuần thứ tư trong tháng (âm lịch) cua ngon hơn thường lệ. Con cua đực thì ngọt thịt, con cua cái thì thơm thịt hơn, nếu chọn cua nấu canh thì chọn cua cái có nhiều gạch, nếu chon cua để rang thì chọn cua đực.
Con rạm ăn đậm đà và ít tanh hơn con giam, nếu trong nhà có người già thì bạn nên sử dụng con rạm hơn con giam vì con giam tính hàn nhiều hơn, ăn vào đễ bị lạnh dạ, hoặc hơi đau nhức mình mẩy.
Rau dền dại thường mọc đầy ở những bờ ruộng thôn quê, lá nhỏ và cây đôi khi có gai, nhưng là nấu canh ngon hơn dền trồng trong vuờn.
Khi nấu những món ăn có gia vị là mắm tôm, thì phải hoà mắm tôm trong nước nguội, không nên đổ mắm tôm vào chảo dầu đang sôi sẽ rất nặng mùi.
Canh cua cà pháo là món ăn mà bất kỳ vùng quê nào của VN đều có, cái khác của người Nghệ Tĩnh là, không tra hành ngò vào nồi canh cua mà sử dụng mùi thơm của lá lốt, ngoài ra người Bắc cũng không sử dụng con rạm để nấu canh cua bao giờ.
Cà pháo Nghệ Tĩnh, hột mềm, cùi dày ăn rất dòn, thật ra người HN muối cà pháo cũng đều chọn cà buôn từ Vinh ra để muối.
“Ai ơi cà Xứ Nghệ càng mặn lại càng dòn
Nước chè xanh Xứ Nghệ càng chát lại càng ngon”
Cà Vinh dầm với tương Nam Đàn bạn đã bao giờ đuợc thưởng thức chưa ?Tôi thì nghĩ bạn khó mà quên được hương vị quê tôi!
.
LƯƠN OM CHUỐI XANH
Nguyên liệu :
Luơn : 03 con
Thịt ba rọi : 200 gr
Đậu phụ : 03 bìa
Mắm tôm : 01 thìa canh
Chuối xanh : 10 trái
Giấm bỗng : 01 đọi (nguời Bắc nấu bằng mẻ)
Nghệ tuơi : 1 nhánh, lá nghệ non 01 lá
Là lốt : 10 cái (nguời Bắc nấu bằng mùi tây và tía tô)
Gia vị : Hành, tỏi, ớt, muối bột canh, ruợu gạo 02 thìa canh, đuờng 1/2 thìa cà phê,
Cách làm :
Sơ chế luơn :
Dùng một con dao nhọn rạch hai bên xuơng sống luơn, rút bỏ xuơng, cắt khúc dài 2,5 cm, đem chiên sơ.
Thịt ba rọi : cắt quân cờ tuơng đuơng với miếng luơn, đem chiên sơ, kẹp vô một cái vỉ nuớng, đốt rơm và xông thịt qua cho có mùi khói.
Đậu phụ : Cắt quân cờ, chiên vàng
Chuối xanh : gọt vỏ, cắt khúc 2,5 cm, chẻ làm đôi rồi ngâm vô thau nuớc pha muối với chanh hoặc giấm chừng 01 giờ cho hết chát.
Giấm bỗng và mắm tôm : thêm vào vài thìa nuớc nguội, quậy đều lọc lấy nuớc, bỏ bã;
Là nghệ và lá lốt thái sợi;
Hành - tỏi - nghệ - ớt băm nhỏ cho vào chảo phi thơm, cho chuối vào xào sơ, sau đó cho thịt và luơn vào đảo đều, đổ nuớc sâm sấp rồi mới cho giấm và mắm tôm vaò, đậy vung om vừa lửa chừng 20 phút, khi chuối xanh chín mềm, nuớc trong nồi vàng sánh màu nghệ, nêm lại gia vị vừa ăn, tắt bếp và cho lá lốt, là nghệ thái sợi và ruợu vào trộn đều.
Món này ăn nóng với bánh tráng nuớng và vài xị ruợu (nguời Bắc ăn với cơm và bún)
LƯƠN OM NỒI ĐẤT
Nguyên liệu :
Luơn : 05 con
Thịt ba rọi : 300 gr
Măng tuơi : 01 củ
Giấm bỗng : 1/2 đọi
Gia vị : Hành, tỏi, sả, ớt khô, nghệ tuơi, cà ri, mật mía 02 thìa canh, nuớc hàng 01 thìa canh, dầu ăn 03 thìa canh, nuớc mắm ngon 02 thìa canh, ruợu gạo 01 thìa canh.
Cách làm :
Luơn và thịt sơ chế như "luơn om chuối xanh"
Măng : thái vuông quân cờ (dày 01 cm x cạnh 2 cm), đem luộc 03 lần cho hết mùi măng.
Giấm bỗng : nghiền nát và rây mịn
Hành, tỏi, sả băm nhỏ chia đôi, sắp một nửa xuống dưới đáy nồi, cho dầu ăn vaò, sau đó sắp xen kẽ thịt, măng, luơn vô nồi đất, phủ tất cả những gia vị còn lại lên trên, đặt lên bếp đun vưa lửa chừng 05 phút cho thấm mắm muối, sau đó đổ giấm bỗng và nuớc sâm sấp mặt luơn, om nhỏ lửa cho đến khi nuớc trong nồi sánh sền sệt laị, cho thêm 01 thìa canh ruợu, đậy vung lại chừng một phút cho huơng ruợu toả đều trong nồi luơn là đuợc.
Yêu cầu thành phẩm : miếng thịt luơn phải vàng bóng và thấm gia vị, vị chua, cay, mặn, ngọt, nồng thơm mùi ruợu - sả - cà ri, nuớc trong nồi phải vàng sánh màu cánh gián.
Món này ăn với cơm gạo quê thì "...đi xa cụng muốn về, khổ đau càng muốn về, để tìm mẹ..." cho ăn luơn om mất thôi.
.
tôi xin giới thiệu về rừng quốc gia Pù mát
Giới thiệu qua về vị trí địa lí:
Vị trí: Thuộc địa phận 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương
Nghệ An là một trong những địa phương còn bảo tồn được diện tích rừng nguyên sinh vào loại lớn nhất trong cả nước với nhiều loại động thực vật quý hiếm. Rừng nguyên sinh Pù Mát, được đánh giá là một trong những khu rừng quí có giá trị không chỉ về mặt kinh tế mà còn rất hấp dẫn về du lịch bởi sự hoang sơ, cảnh quan tuyệt đẹp và môi trường sinh thái chưa bị ô nhiễm. Đây sẽ là cụm du lịch có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển loại hình du lịch sinh thái của Nghệ An. Tài nguyên du lịch chủ yếu của khu du lịch này là: Vườn Quốc gia Pù Mát, thác Khe Kèm, suối Nậm Mọc, sông Giăng, đập Phà Lài, bản Cò Phạt - nơi tộc người Đan Lai sinh sống...
Vườn có diện tích 91.113 ha được xem là khu vực có diện tích rừng tự nhiên rộng nhất miền Bắc Việt Nam. Vườn có hệ thực vật rất đa dạng và phong phú: có tới 1.513 loài thực vật bậc cao thuộc 159 họ 545 chi. Trong Vườn có tới 220 loài cây thuốc quý giá như: hà thủ ô, thổ phục linh, quế, ba kích, hoài sơn... và các loài cây lấy gỗ, có trầm hương và có hơn hàng trăm loại rau, cây ăn quả các loại.
Hệ động vật có 42 loài thú lớn, 20 loài thú nhỏ, 295 loài chim... Có thể kể tên một số loài như: hổ, báo hoa mai, báo gấm, heo rừng, voọc, vượn đen, gấu chó... Vườn Quốc gia Pù Mát là nơi có đàn voi lớn nhất Việt Nam, các loài chim quý như: Trĩ Sao, Gà lôi, Gà tiêu... Có thể nói Vườn Quốc gia Pù Mát là rừng thiêng, là kho báu tự nhiên của nhân loại, là khu du lịch sinh thái hấp dẫn, lý tưởng. Trong vườn có nhiều thác nước đẹp, nhiều hang động, có cảnh quan lý thú. Vào Vườn Quốc gia Pù Mát, du khách như lạc vào xứ sở của thiên đường với cây cảnh muôn loài. Trên các triền núi cao từ 1.500m trở xuống gọi là rừng lùn, nhiều nơi được coi là cảnh tiên. Cây rừng khổng lồ xen giữa những hòn non bộ, mỗi cây là kỷ vật của tạo hoá với nhiều dáng vẻ.
Khu du lịch này rất thuận lợi cho sự phát triển loại hình du lịch sinh thái, du lịch khám phá thăm và tìm hiểu phong tục tập quán của các bản dân tộc. Đến đây, du khách còn được tham dự các lễ hội tiêu biểu của vùng ưa thích loại hình du lịch sinh thái và du lịch mạo hiểm.
Di tích: Cây Đa-cồn Chùa (Môn Sơn)
Danh thắng: Thác Kèm, Sông Giăng, Rừng Nguyên sinh Pù Mát
Đặc sản: cá Mát sông Giăng
Làng nghề: dệt Thổ Cẩm Môn Sơn, Lục Dạ
Lễ hội: lehoi hang pua
Vùng phụ cận: nghĩa trang liệt sỹ Việt Lào
Thác Kèm (http://www.vietnam-tourism.com/nghean/v_pages/destin.asp?uid=72)
Vị trí: Cách thị trấn Con Cuông khoảng 25km, trong địa phận Vườn quốc gia Pù Mát, thuộc huyện Con Cuông.
Thác kèm naỳ:
Đập Phả Lại ngăn sông Giăng trong vườn quốc gia Pù Mát - Con Cuông:
Cảm ơn Hoangquan đã post bài giới thiệu về văn hoá ẩm thực Xứ Nghệ quê mình . Post thêm nhiều bài nữa để bè bạn khắp miền biết đến hương vị Xứ Nghệ nhé !
Cảm ơn Hoangquan đã post bài giới thiệu về văn hoá ẩm thực Xứ Nghệ quê mình . Post thêm nhiều bài nữa để bè bạn khắp miền biết đến hương vị Xứ Nghệ nhé !
Bạn nào bít làm Cu Đơ thì post lên nhé!Đây là một trong các món đặc sản quê Bác rất ngon .
Giờ này mà anh mèo chưa ngủ đi à, còn ngồi đó mơ tới Cu Đơ Nghệ An .
Món này nổi tiếng, ăn ngon, trộn lẫn vị thơm của mật, vị bùi của lạc, vị ngọt đậm đà quyện thêm vị gừng cay cay, cắn giòn tan....Ăn Cu Đơ (kẹo lạc) cùng với chén trà đặc hoặc bát chè xanh thì càng tuyệt vời . Nhưng mà ghét nhất khi ăn Cu Đơ là dính răng, mỏi miệng....:)
Giờ này mà anh mèo chưa ngủ đi à, còn ngồi đó mơ tới Cu Đơ Nghệ An .
Món này nổi tiếng, ăn ngon, trộn lẫn vị thơm của mật, vị bùi của lạc, vị ngọt đậm đà quyện thêm vị gừng cay cay, cắn giòn tan....Ăn Cu Đơ (kẹo lạc) cùng với chén trà đặc hoặc bát chè xanh thì càng tuyệt vời . Nhưng mà ghét nhất khi ăn Cu Đơ là dính răng, mỏi miệng....:)
Còn trẻ thế mà ăn Cu Đơ kêu dính răng,mỏi miệng ...à em?Ăn nhiều thì sẽ quen thôi mà!;)
Em tự làm ăn sẽ ngon hơn đấy . Đường đun vừa đủ độ không sớm quá và cũng không kỹ quá .Khi đó cho Lạc vào quấy đều ....Em làm đúng theo công thức từ A-Z thì khi ăn sẽ giòn tan không mỏi miệng chút nào .:bz
Còn trẻ thế mà ăn Cu Đơ kêu dính răng,mỏi miệng ...à em?Ăn nhiều thì sẽ quen thôi mà!;)
Em tự làm ăn sẽ ngon hơn đấy . Đường đun vừa đủ độ không sớm quá và cũng không kỹ quá .Khi đó cho Lạc vào quấy đều ....Em làm đúng theo công thức từ A-Z thì khi ăn sẽ giòn tan không mỏi miệng chút nào .:bz
Anh mèo ơi,nấu kẹo bằng mật mía mới ngon và dẻo chứ nấu kẹo đường thì không còn mấy hương vị và giá trị của Cu Đơ Nghệ an đâu . Kẹo nấu từ đường chỉ được mỗi ưu điểm như anh nói là giòn, ko mỏi miệng tẹo nào, nhưng em chắc chắn là không ngon bằng 1/2 kẹo nấu từ mật đâu!
Anh mèo ơi,nấu kẹo bằng mật mía mới ngon và dẻo chứ nấu kẹo đường thì không còn mấy hương vị và giá trị của Cu Đơ Nghệ an đâu . Kẹo nấu từ đường chỉ được mỗi ưu điểm như anh nói là giòn, ko mỏi miệng tẹo nào, nhưng em chắc chắn là không ngon bằng 1/2 kẹo nấu từ mật đâu!
Bí quyết Cu Đơ ngon là thế à .Anh nghĩ làm như kẹo lạc quê anh :P
Hôm nào em làm mời mọi người hội CaFe nhá ...nhá ...
Ha ha...chỉ giỏi dụ dỗ . Nhưng mời mọi người thì em sẵn sàng. Em không làm bao giờ, nhưng về quê em sẽ mang Cu Đơ Nghệ An ra làm quà cho mọi người . Chỉ sợ là mọi người ăn xong lại trách em dính răng,mỏi miệng thôi, em sợ em bắt đền hông nổi .
Cách nấu kẹo cu đơ đây nì, bà con thử nhé
http://i141.photobucket.com/albums/r55/phlanhoa/xunghe108-1.jpg
Cu-đơ Hà Tĩnh
(Công thức nấu kẹo cu-đơ bằng thơ)
***
Bảy phần mật, ba phần nha,
Mười phần lạc hạt, gừng là năm phân,
Mật ngọt quyện với nha non,
Gừng tươi giã nhuyễn, ngọt thơm một nồi.
Lửa nồng ấm áp tình người,
Xin đừng lạm dụng kẻo rồi ăn năn.
Khéo cho bếp lửa âm thầm,
Nha trong, mật quánh, hương nồng tỏa lan.
Lạc đà đến độ kỳ duyên,
Áo em lụa mỏng xin đừng mạnh tay,
Nhỡ mà rách áo em nay,
Ai thời phải chịu tiếng lây, vụng về!
Chi bằng thư thả canh khuya,
Lụa hồng đượm mật, khéo bề thương nhau.
Bao giờ nguyện ước tròn câu,
Mật nha tròn vạnh quả cầu trong veo.
Lửa tắt thời tới chanh chiều,
Đa tình những muốn thơm liều gừng cay.
Ngậy dòn bánh tráng là đây,
Cu–đơ Hà Tĩnh ngọt say lòng người!
Note: Luận được ý nghĩa bài thơ là bà con nấu được kẹo cu-đơhttp://slna-fc.com/diendan/vietuni8/images/smileys/22.gif
Đây là món mùa thu mà tôi rất thích ăn đưa lên cho cả nhà tham khảo
CHIM SẺ NƯỚNG SẢ ỚT
Nguyên liệu :
Chim sẻ : có bao nhiêu nướng bấy nhiêu, có thể thay bằng chim cút
Gia vị : Sả, ớt, muối, tiêu, chanh quả tươi, lá chanh (hoặc lá quýt tắt), mật mía, húng lìu, mỡ nước, rượu gạo.
Cách làm :
Chim sẻ : Tắm sạch chim khi đang còn sống, sau đó để cho chim tự rủ lông cho khô, khi đã vặt lông không rửa lại bằng nước lã nữa;
Cắt tiết hoà vào trong rượu để uống;
Vặt sạch lông chim, đốt lửa thui qua cho sạch lông măng, mổ moi ruột, móc phổi bỏ đi, để lại gan, tim và trứng (nếu co), rửa sơ chim bằng một đọi rượu pha loãng với 02 đọi nươc đun sôi để nguội, dùng giấy thấm sạch máu bên trong thành ruột;
Sả, ớt băm nhỏ, trộn với muối, húng lìu, mật mía quết vào cả bên trong lẫn bên ngoài con chim, để chừng 10 phút cho se lại rồi nhét thêm lá quýt vô trong bụng chim, đem nướng trên than hồng. Khi thịt chim bắt đầu chín vàng, dậy mùi thơm thì quết thêm một lượt mỡ nước, nướng thêm 05 phút cho lớp da bên ngoài vàng bóng là được;
Muối chấm : Dùng lõi trắng của củ sả đập dập băm nhỏ, lá chanh thái nhỏ như sợi tơ, trộn chung với 01 thìa cà phê muối bột canh, ¼ thìa cà phê tiêu và ¼ thìa cà phê đuờng, vắt thêm chanh để chấm.
Nguyên liệu:
- Chim "hoành tráng(không phải là Vit đực mới nở khứa chân,chặt mỏ đâu nhá:-ss) 6 con
- Quế, hồi, thảo quả, hành khô, mật ong, gia vị vừa đủ
- lá quýt
- Dầu ăn
Thực hiện:
- Chim làm sạch nhét thêm lá quýt vô trong bụng chim(không có lá thì thay = vỏ quất)
- Hành khô nướng thơm, Quế, hồi, thảo quả, mật ong, gia vị, cho 1 chút nước đun nhỏ lửa, sau đó cho chim vào đun sôi cho ngấm gia vị, vớt ra để ráo nước
- Cho dầu ăn sôi già sau đó cho chim vào (ngập dầu), đến khi chim chín vàng là được
Trình bày:
Xếp ra đĩa, ăn nóng với muối chanh ớt. Chim có mùi thơm, thịt mềm, ròn.
p/s: Đây là món ăn của Bắc Kỳ .Chim "hoành tráng" là tất cả các loại Chim.Trẻ(non) or già quay lên đều thơm,mềm,ròn ...miễn là Chim to béo,khỏe(không bị Cúm gia cầm).
Xin giới thiệu món cà muối quê tôi cho bà con thưởng thức
CÀ MÓI
1.Cà truờng :
Là loại cà muối mặn bằng cách dùng đá nén chặt và để ít nhất 03 tháng mới dùng, thuờng thì sau 01 năm mới dùng.
Phuơng pháp muối :
Lựa chọn nguyên liệu :
· Cà pháo (hoặc cà dừa): 20 kg (Ngon nhất là cà trồng tại ngoại ô thành phố Vinh, vùng Hưng Nguyên ít hạt, cùi dày, chọn loại cà bánh tẻ tức là không già quá cũng không non quá)
· Muối : 04 kg
· Mía : 01 cây
· Củ kiệu : 03 kg
· Nuớc : 10 lít
· Một cái vại sành lớn có nắp đậy, một hòn đá ong to rửa sạch
Cách làm :
· Cà : cắt cuống và gọt bớt tai rửa sạch
· Củ kiệu : nhặt sạch rễ và vỏ lụa bên ngoài, rửa sạch, đem phơi một nắng cho héo
· Muối và nuớc đun sôi để nguội, lóng cặn
· Mía Cắt khúc dài khoảng gần bằng miệng vaị, đem nuớng chín, rửa sạch lau khô và chẻ mỏng, đan thành vỉ.
· Cà và kiệu trộn chung cho vô vaị, đậy vỉ đan bằng mía nuớng lên, đổ nuớc muối vaò, lấy hòn đá chặn lên (hòn đá phải đủ nặng để ép nuớc cà ra ngoài). Đậy nắp cà và để yên ngoài sân ít nhất là 03 tháng sau mới đuợc mở ra, thuờng thì phải đủ một năm dùng mới ngon và không có độc.
2. Cà muối sổi :
· Là loại cà muối ăn ngay trong tuần
· Cà pháo : 1kg Làm sạch như muối cà truờng
· Nếu là cà dừa thì thái lát mỏng, phơi héo một nắng mới muối.
· Muối : 100 Gr
· Riềng : 01 nhánh
· ớt tuơi : 02 quả
· Dấm bỗng (hèm ruợu) : 01 thìa canh
· Mía nuớng : 01 khúc
Cách làm :
· Pha muối với 01 lít nuớc đun sôi để nguội
· Sắp cà vào liễn, giã ớt và riềng trộn vaò, hèm ruợu nghiền nát, lọc bã cho vaò, sau đó chẻ mía sắp lên trên cùng, nén cà xuống cho ngập nuớc thì cà mới trắng.
· Mùa đông : 07 ngày thì cà ăn đuợc
· Mùa hè : 03 ngày thì cà ăn đuợc
· Chú ý : Kỹ thuật muối cà là phải nén cho cà ngập dưới nuớc, nếu không dễ bị khú.
· Những nguời hay đau nhức xuơng cốt, gái đẻ thì không nên ăn cà muối sổi, cà truờng muối chưa quá 03 tháng, cà dừa ăn lành hơn cà phaó.
· Cà muối sổi ăn với nuớc rau luộc
Cà truờng ở quê mình ăn với khoai lang luộc
Mùa mưa bão đến có món cho cả nhà lỡ may bị ngập lụt
CHẾ BIẾN CÁ CƠM KHÔ
Cá ngon của vùng biển Nghệ Tĩnh có lẽ nổi tiếng ở hai vùng Cẩm Nhượng và Diễn Châu. Diễn Châu có nước mắm Vạn Phần đã có tích trong lịch sử thương mại của VN.
“Em về Kẻ Vạn mà xem
Ruộng nương thì ít, cá tôm thì nhiều
Em đừng có làm kiêu
Đất Vạn Phần vui lắm
Chỉ ba thùng nước mắm
Trẩy một chuyến kinh kỳ
Đủ ăn chơi phủ phê
Đủ quần ba áo bảy…”
Con cá cơm phơi khô của người Nghệ không ướp muối rồi mới phơi như ở Miền Nam, nên nó có vị ngọt, thơm mà không mặn muối, khi kho phải cho thêm nước mắm, loại cá cơm ngần phơi khô của biển Diễn Châu là ngon nhất. Nếu bạn không có điều kiện xuống Diễn Châu để mua, thì chỉ cần đến chợ Vinh rồi hỏi cá cơm ngần Diễn Châu cũng có thể mua đuợc.
CÁ KHÔ KHO
Nguyên liệu :
Cá cơm ngần : 100 gr
Thịt ba chỉ : 200 gr
Gia vị : Hành củ, tỏi, sả, ớt bột, nước mắm, mật mía (01 thìa canh), tiêu, húng lìu
Cách làm :
Cá cơm : cho vào rổ dày, thả vào thau nước ngâm chừng 5 phút, rồi dùng tay khoả mạnh cho sạch cát, vớt ra vẩy ráo;
Thịt ba chỉ : Thái sợi rồi đem rán vàng;
Sử dụng mỡ rán đuợc từ thịt ba chỉ để phi thơm hành, tỏi, sả ớt;
Cho cá khô vào xào, đảo đều tay cho đến khi cá ngấm mỡ trong lại thì cho thêm nước mắm, mật mía, húng lìu và trộn thịt ba chỉ vào đảo đều cho đến khi khô săn lại thì đuợc, tắt bếp thì cho thêm tiêu.
Note :
Nếu bạn không thích ăn ngọt thì có thể giảm lượng mật xuống một nửa, nhưng nếu bạn không cho tí mật nào chắc chắn sẽ bị mặn gắt không ngon;
Cá cơm ngần rất nhỏ và mềm, nên bạn không cần thiết phải thêm nước ninh như cá khô loại lớn, chỉ xào chừng 5 – 10 phút là cá đã thấm gia vị.
CÁ KHÔ RANG
Nguyên liệu :
Cá cơm bạc khô : 100 gr (món này cần cá to, nên bạn không thể dùng cá cơm ngần đuợc)
Cách làm :
Cá cơm : đem vặt bỏ trốc và phần ruột rồi rang dòn như rang lạc;
Nước sốt :
Mật mía : 01 thìa canh
Nước mắm : 02 thìa canh
Nước : 02 thìa canh
Bột năng : 1/3 thìa cà phê
Dấm ăn : 01 thìa cà phê
Tỏi, ớt giã nhuyễn
Hoà hết tất cả các thứ vào, bắc lên bếp đun sôi thành một hỗn hợp chua ngọt sền sệt;
Khi ăn mới trộn nước sốt vào vào cá;
Bạn cũng có thể chấm nước mắm chanh tỏi ớt
Yêu cầu thành phẩm :
Cá ăn phải dòn, thơm và đậm vị nước chấm;
Người ngư dân ở hai vùng biển này dùng món cá rang để nhậu chơi với bạn hữu.
mây hạnh phúc
12-09-09, 10:02
nhìn thấy con lươn đã thấy sợ rồi làm sao chế biến được món "lươn om nồi đất" đây? :-??
Thì mua lươn bảo người bán họ làm cho về nhà chỉ chế biến thôi
Còn đây là "Tiếng Nghệ"
Từ giọng nói, tiếng nói mà suy tưởng đến một nét thuộc tính cách của người Nghệ là tình thương yêu, chung thủy trong quan hệ giữa người với người. Bài thơ "Tiếng Nghệ" của Nguyễn Bùi Vợi tự cất cánh bay lên một tầm cao thẩm mỹ.
Tiếng Nghệ
Cái gầu thì bảo cái đài
Ra sân thì bảo ra ngoài cái cươi
Chộ tức là thấy mình ơi
Trụng là nhúng đấy đừng cười nghe em
Thích chi thì bảo là sèm
Nghe ai bảo đọi thì mang bát vào
Cá quả lại gọi cá tràu
Vo troốc là bảo gội đầu đấy em…
Nghe em giọng Bắc êm êm
Bà con hàng xóm đến xem chật nhà
Răng chưa sang nhởi nhà choa
Bà o đã nhốt con ga trong truồng
Em cười bối rối mà thương
Thương em một lại trăm đường thương quê
Gió Lào thổi rạc bờ tre
Chỉ nghe giọng nói đã nghe nhọc nhằn
Chắt từ đã sỏi đất cằn
Nên yêu thương mới sâu đằm đó em
Trữ tình mà như tự sự. Chuyện một chàng trai xứ Nghệ lập nghiệp ở xứ Bắc và xe duyên, kết tóc với một cô gái ở đàng ngoài. Lần đầu anh đưa vợ về thăm quê và ra mắt bà con, họ hàng. Anh muốn cho vợ khỏi bỡ ngỡ và hòa nhập được nhanh với gia đình, theo anh, trước hết phải hiểu được tiếng địa phương nơi quê anh. Thế là anh cấp tốc trang bị cho vợ một loạt từ địa phương. Anh chỉ chọn những từ mà anh dự đoán là sẽ gặp trong trò chuyện, trong sinh hoạt. Như một đoạn văn từ điển, anh đọc cho vợ nghe, chẳng khác gì học ngoại ngữ.
Kể ra anh ta đón đầu cũng khá. Vừa để vợ hiểu được người ta nói gì, vừa chủ động nói với người khác: “Thích chi thì bảo là sèm/ Nghe ai bảo đọi thì mang bát vào”. Các tiếng anh trang bị cũng đủ các loại âm: âm ai (đài), ươi (cươi), ô (chộ), ung (trụng), em (sèm), oi (đọi), au (tràu), đến cả âm oôc (troốc) cũng có.
Thế nhưng khi gặp một tình huống bất ngờ:
Răng chưa sang nhởi nhà choa
Bà o đã nhốt con ga trong truồng
thì vợ anh đành “bối rối”. Bối rối là phải. Bởi lúc anh bày thì bày từng tiếng một như kiểu tập đặt câu, mỗi câu một tiếng lạ. Nhưng ở đây lại nghe hai câu liên tiếp, mỗi câu có đến những ba tiếng lạ. Chẳng khác gì nghe tiếng nước ngoài. Hơn nữa, sáu tiếng này lại âm khác, không trùng với một âm nào mà anh đã trang bị: Ang (răng), ơi (nhởi), o (bà o), a (ga), uông (truồng).
Có thể dụng ý hay từ vô thức xuất thần, nhưng cứ qua câu chữ mà phân tích thì thật là lý thú. Tình huống vừa xảy ra chắc ai cũng cười, ngay vợ anh cũng “cười bối rối”. Từ “bối rối” được đặt cạnh từ “cười” tạo thành cụm từ “cười bối rối” là một sáng tạo. “Bối rối” là lúng túng, mất bình tĩnh, không biết xử trí thế nào. Nhưng ở đây, nó không hàm nghĩa mất bình tĩnh nữa và cười là một cách xử trí vừa thông minh, vừa phúc hậu, dễ thương.
Em cười bối rối mà thương
Thương em một lại trăm đường thương quê
Thấy em bối rối mà anh thêm thương. Nhưng thương em thì một mà thương quê lại trăm nghìn lần. Mạch thơ tự sự bỗng chuyển sang trữ tình sâu lắng. Đang vui, đang cười bỗng chảy nước mắt. Đang nói về thương em, bỗng chuyển sang thương quê. Thương em vì em bối rối khi nghe người quê anh nói mà không hiểu. Nhưng thương quê vì sao quê anh lại được ông trời ban cho tiếng nói ấy. Một thứ tiếng mà “chỉ nghe giọng nói đã nghe nhọc nhằn”. Câu thơ thật hay, cảm nhận đúng và sâu sắc cái giọng nói của quê mình. Giọng nói của vùng đất nhiều núi non sông nước, nhiều đá sỏi đất cằn, nhiều gió Lào mưa bão… Con người ở đây phải gồng mình lên mới sống nổi. Có lần, nhà thơ đã viết về con người xứ Nghệ: “Đã thẳng, thẳng như ruột ngựa/Đã nói là nói oang oang/Ông trời nói sai cũng cãi/ Như rứa là dân xứ Nghệ”.
Từ Gió Lào thổi rạc bờ tre đến Chỉ nghe giọng nói đã nghe nhọc nhằn là một trường liên tưởng đầy hàm nghĩa. Ngôn từ ở đây mang đầy hồn cốt của dân Nghệ: “Thổi rạc” và “Nghe nhọc”. Cứ tiếp xúc với dân lao động ở vùng này thì bắt gặp ngay những từ như rạc người, gầy rạc, nghe nhọc lắm. Rạc là gầy, khô, hốc hác, phờ phạc, xơ xác…
Nhưng ở đời, cái gì cũng có hai mặt của nó. Thiên nhiên khắc nghiệt nên con người phải yêu thương, đùm bọc nhau mới có thể vượt qua được những cơn bão tố:
Chắt từ đã sỏi đất cằn
Nên yêu thương mới sâu đằm đó em
Từ giọng nói, tiếng nói mà suy tưởng đến một nét thuộc tính cách của người Nghệ là tình thương yêu, chung thủy trong quan hệ giữa người với người. Bài thơ tự cất cánh bay lên một tầm cao của thẩm mỹ.
CHÁO CÁ TRÀU THÀNH PHỐ VINH
Nếu bạn về Vinh, sẽ gặp rất nhiều quán cháo cá tràu khắp trong địa bàn thành phố, đây là món ăn dễ nấu mà lại ngon, đặc biệt con cá tràu của vùng ven thành phố Vinh quả là chất lượng đặc biệ, mà chốn phồn vinh nhất của tỉnh nhà ắt hẳn nấu nướng cũng điệu nghệ hơn...
Nguyên liệu :
Cá tràu : 500 gr
Xương ống heo : 01 cái
Gạo tám xoan : 100 gr Đậu xanh : 100 gr
Gia vị : Muối, tiêu, ớt bột, nghệ tươi, bột điều, hành tăm, ngò tây, thìa là và 01 củ hành tây.
Cách làm :
Cá tràu làm thịt bình thường
Nghệ tươi : Giã nhỏ, cho vào nồi, đổ 2 lít nước và một thìa cà phê muối, đun sôi cho cá vào luộc chín;
Vớt cá ra, luôc bỏ da cá và gỡ lấy phần thịt cá, đem ướp với hành khô, tiêu, nước mắm;
Bỏ xương cá lại vào nồi, cho thêm xương ống heo chặt nhỏ, ninh nhừ lấy nước dùng;
Đỗ xanh cà dập, ngâm với nước ấm cho nở mềm, đãi vỏ rồi trộn chung với gạo, đổ nước dùng vào ninh nhừ;
Phi thơm vài hành tăm, cho thịt cá vào xào lên cho thơm đặm mắm muối;
Phi một thìa canh dầu ăn với hột điều để lấy váng màu đỏ
Thìa là, hành, ngò tây nhặt rửa sạch, thái nhỏ;
Hành tây bóc vỏ, rửa sạch, thái mỏng;
Gừng gọt vỏ rửa sạch, thái lát rồi giã thật nhuyễn;
Khi cháo đã chín nhừ, nêm vừa mắm muối, trút phần dầu hột điều lên ta sẽ có lớp dầu váng đỏ rất đẹp mắt;
Cách ăn :
· Bạn cho hành tây xuống đáy tô, múc cháo dội lên, tiếp rắc thịt cá , tiêu, gừng giã nhuyễn và rau thơm lên, trộn đều ăn nóng.
· Nếu muốn có vị rau ăn cùng với cháo, thì bạn có thể dùng rau bắp cải thái chỉ trộn với rau thơm để ăn cùng.
Có mấy món xứ Nghệ mà tôi cam đoan là 100% thế hệ 8X chưa bao giờ được ăn và chỉ những nguời hoài niệm hay lẩn thẩn như bọn tôi thỉnh thoảng còn nhớ. Đưa lên đây cho mọi người tham khảo nhé
CANH LỘC LẰNG
Nguyên liệu :
Lá lằng khô : 01 nhúm Tép đồng phơi khô : 01 nhúm
Gia vị : 01 tép tỏi, dầu ăn, muối
Cách làm :
Phi dầu ăn với một tép tỏi, cho tép khô vào đảo qua rồi đổ nước dùng vào đun sôi thì cho nhúm lá lằng vào, sôi vài dạo thì bắc ra là ăn được.
Note :
Canh lộc lằng chỉ ngon khi nấu lá khô với tép khô, nếu nấu lá tươi với tép tươi hay tép khô, hay ngược lại đều không ngon;
Khi lần đâu tiên nếm thử món này, ta có cảm giác giống như lần đầu tiên ăn canh mướp đắng của người Nam Bộ, mùi canh thơm rất lạ, vị hơi đắng, tuy nhiên khi nhấp từ từ vào cổ họng ta thưởng thức đuợc vị ngọt của canh;
Món ăn này là món canh giải nhiệt của mùa hè;
Món canh này chỉ có ở vùng Diễn Yên Quỳnh - huyện Quỳnh Lưu, cây lộc lằng thuộc họ thân gỗ cao chừng 3 – 4 mét, lá hơi giống như lá sắn, cây mọc trong khe suối, trong truông. Người dân đi rừng kiếm củi gặp cây lộc lằng là chặt hạ, vặt lấy lá non và lá bánh tẻ, đem về thái nhỏ phơi khô, gói kỹ cho vào chóe để dành ăn dần.
LỚ
Đây là một món ăn chơi lót dạ cho con trẻ của người dân vùng quê nghèo Nghệ Tĩnh , bây giờ có thể bọn trẻ đã không còn biết đến vì cuộc sống ngày nay đã no đủ hơn.
Từ điển ẩm thực :
Lớ : Một lọai cám rang
Lúa lưng : lúa sữa con non chưa già
Cách làm :
Lúa nếp hoặc lúa gạo gié đỏ đem xay sát vỏ lúa, rồi cho vô cối giã kỳ cho tróc lớp vỏ cám bên ngòai lẫn với một ít bột gạo
Lấy cám gạo ấy dần lấy bột mịn cho lên nồi rang, rang vàng lên là đuợc lớ
Khi ăn lớ, (nếu không có kinh nghiệm sẽ rất dễ bị sặc): Đổ lớ ra mâm, dùng một miếng mo cau nhỏ cuộn lải làm thìa xúc lớ cho vô miệng, ngậm lại cho thấm nước bọt rồi mới nuốt. Lớ có vị thơm của gạo rang, vị ngọt của cám, that ra món ăn này rất tốt cho trẻ em vì vitamine B1 và B6 có nhiều trong cám
(Trong diễn đàn ni có kẻ đang thiếu vitamine nhóm B trầm trọng - nên ăn lớ nhiều vào http://www.slna-fc.com/Diendan/vietuni8/images/smileys/4.gif)
Ở vùng Diễn Châu, người dân thường làm lớ bằng lúa lưng, một lọai lúa đang non, đem về tuốt lấy hạt cho vô cối giã nhỏ rồi rây mịn, rang vàng. Làm lớ bằng lúa lưng ngọt và thơm hơn lúa chín, bởi thế lớ của người Diễn Châu có lẽ ngon hơn những vùng khác, có câu :
“Dân choa thiệt thậm là nghèo
Mùa về nghe tiếng cối kêu rầm làng”
Cối kêu ở đây chính là tiếng cối đâm lớ.
http://www.slna-fc.com/Diendan/vietuni8/images/smileys/54.gifhttp://www.slna-fc.com/Diendan/vietuni8/images/smileys/54.gifhttp://www.slna-fc.com/Diendan/vietuni8/images/smileys/54.gif
BÁNH ĐÚC
Nguyên liệu :
· Gạo : 01 kg
· Vôi ăn trầu, muối
· Dụng cụ : Cối xay bột, nồi, mâm, dầu ăn
Cách làm :
· Bột gạo : ngâm và xay như bài bánh mướt
· Vôi : hoà tan trong nước lạnh rồi để lắng trong, lấy chừng 01 thìa canh nước vôi trong;
· Nấu bánh đúc : Cho một thìa dầu ăn vào nồi, bắc lên bếp đun nóng, tráng đáy nồi cho trơn rồi trút dầu ra mâm, thoa đều lên mầm cho trơn;
· Đổ bột vào nồi quậy đều tay, đun vừa lửa và giảm dần khi bột gần chín, cho thêm thìa canh nước vôi trong vào quậy đều để cho bánh dòn;
· Làm sao để biết bột chín ? khi ta quậy đều tay trong nồi, bột chín sẽ có cảm giác nổi nên tay qậy tư nhiên cảm thấy nhẹ, nhìn bắng mắt thấy bột trong nồi đã trong và quyện lại là bột đãa chín;
· Đổ bánh ra mâm, dàn bột cho đều, bề dày khoảng 2 cm, để nguội là thành bánh đúc.
BÁNH ĐÚC LẠC
Làm như trên, nhưng thêm 200 gr lạc luộc chín trộn vào khi bột sắp chín.
BÁNH ĐÚC SA NAM
Người dân Nam Đàn thì có kiểu nấu bánh đúc khác với những nơi khác, họ không xay gạo thành bột mà nấu nguyên hột gạo gần như nấu cháo
Loại gạo để nấu bánh đúc của người Nam Đàn là gạo gié đỏ, một loại gạo có ruột màu hồng nâu, bởi vậy, bánh đúc của người Nam Đàn thường có màu hồng chứ không trắng.
Cách nấu : Cho gạo vào nồi, đổ ít lượng nước hơn nấu cháo một chút, khi sắp sôi thì bớt lửa liu riu và tuyệt đối kỵ cho đũa vào cho đến khi cháo chín (khoảng một canh giờ), Khi gạo đã nở hoàn toàn thì bắt đầu cho đũa vào quậy mạnh và liền tay cho cháo tơi thành bột, cho thêm 01 thìa nước vôi trong để tạo độ dòn;
Trải lá chuối tươi vào trong một cái sàng, đổ bánh ra, tải cho đều và để nguội là thành bánh;
Sa Nam trên chợ dưới đò
Bánh đúc hai dãy, thịt bò mê thiên
Muốn ăn nhưng nỏ có tiền
…
CÁCH ĂN BÁNH ĐÚC CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH
Bánh đúc thì rất nhiều vùng quê VN có, nhưng kiểu ăn bánh đúc của người Nghệ Tĩnh thì thật là đặc biệt thú vị nỏ ở mô có :
Các kiểu nước chấm dùng cho món bánh đúc :
· Chấm với ruốc bể : (ruốc bể + chanh + đuờng + tỏi + ớt)
“Tay cầm cá trích cắm(cắn) ngang,
Mắm tôm quẹt ngược, khen nàng khéo ăn”
Câu ca dao này có ý mách cho chúng ta cách ăn những món ăn đó, cá trích tuy béo nhưng lắm xương, nên khi ăn phải cắn ngang và nhai kỹ thì mới không bị hóc xương; khi ăn mắm tôm cần quẹt ngược để mắm tôm không rớt vãi;
· Chấm với mắm bôi: (mắm bôi + chanh + đuờng + tỏi + ớt)
· Chấm với nước mắm cốt : (Nước mắm cốt + chanh + đuờng + tỏi + ớt)
· Chấm với nước kho cá :
· Chấm với nước kho thịt:
· Chấm với nước tương;
· Kiểu ăn của người Nam Đàn :
Người bán bánh đúc thường bán kèm theo bánh đỗ (Đỗ xanh ngâm đãi vỏ, đồ như đồ xôi cho chín, giã nhuyễn rồi vắt thành nắm), khi ăn bánh đúc, bà con Nam Đàn thường trộn chung cá bánh đúc, bánh đỗ cùng ăn;
“Bánh đúc, bánh đỗ
Ai chộ cũng thèm
Chồng hay đánh em
Cũng vì đúc đỗ”
Người Nam Đàn còn có kiểu ăn bánh đúc chan riêu cua;
· Kiều ăn bánh đúc của người Đức Thọ : Bánh đúc ăn với riêu hến sông La;
· Kiểu ăn bánh đúc của người Hương Sơn : Trấy tro kho với cá hoặc thịt rồi chan bánh đúc để ăn.
“Bánh đúc trấy tro
Bán bò nỏ kịp”
Cafemotminh
15-09-09, 00:51
@hoangquan : Bạn ơi bạn đổi font chữ cho dễ đọc nhé. Tks !
Vừa qua có bà chị sống ở Vũng tàu tham gia hội thi văn hóa ẩm thực và giành giải với mâm cơm làng Sen khoe với cả nhà tý
http://i141.photobucket.com/albums/r55/phlanhoa/ma6mcomlangsen2.jpg
Mâm cơm làng sen - Giải nhì hội thi
http://i141.photobucket.com/albums/r55/phlanhoa/mamcomlangsen6.jpg
Gỏi hến sông La - Giải món ngon nhất hội thi
http://i141.photobucket.com/albums/r55/phlanhoa/mamcomlansen5.jpg
Trong hình hài guơng se này là cơm độn sắn, được BGK khen là ý tuởng độc đaó.
http://i141.photobucket.com/albums/r55/phlanhoa/mamcomlangsen3.jpg
Và nhận giải mâm cơm làng Sen - đồng giải nhì với đội ngài Nga
(Trong Hội thì có đội Nga, Nhật, Hàn và đội BP cà Việt cả Tây)
Người mặc áo bà ba xanh
Hi hi. Xứ Nghệ hem có cafe
http://i141.photobucket.com/albums/r55/phlanhoa/banhdaxuchen2.jpg
http://i141.photobucket.com/albums/r55/phlanhoa/banhdaxuchen1.jpg
BÁNH TRÁNG XÚC HẾN
Nguyên liệu :
Hến nhỏ : 02 kg
Báng tráng : 03 cái
Gia vị : Hành khô, tỏi, ngò tàu, ớt, lá chanh, nước mắm, dầu ăn, tương ớt
Cách làm :
Làm hến :
Ngâm hến trong nước vo gạo một đêm cho nhả hết bùn đất, hôm sau dùng bàn chải xát mạnh trên vỏ hến tẩy cho sạch bùn trước khi luộc hến;
Cho hến vào nồi đổ ngập nước, thêm vào một mảnh đu đủ xanh và một chút muối, bắc lên bếp đun tới khi sôi thì dùng đũa dảo mạnh cho ruột hến bong ra khỏi vỏ;
Gạn nước hến ra tô, lọc cặn dùng để nấu canh;
Đổ vỏ hến ra một cái rổ thưa có lỗ to hơn ruột con hến, thả vào thau nược đầy đảo mạnh cho ruột hến lọt lỗ rớt xuống thau, rửa sạch cát sạn trong ruột hến;
Phi thơm hành tỏi ớt, cho hến vào xào thật khô và săn lại, cho thêm tiêu, ngò tàu và lá chanh trộn đều, trút ra đĩa.
Nướng bánh tráng:
Cách quạt than nhanh nhất là bạn đặt một cái vỉ nướng lên trên bếp ga, than chặt nhỏ bằng quả cau để lên trên vỉ, bật bếp ga chừng 10 phút là than cháy rực, gắp bỏ sang lò than để nướng bánh;
Để bánh nướng không có mùi khói, bạn phải cho than cháy đến khi hết khói mới bắt đầu nướng;
Bánh tráng nướng không dậy đều ăn sẽ cứng không dòn tan; Dậy đều nhưng trắng quá ăn lại không thơm; Cháy quá thì tất nhiên là đắng, bởi vậy yêu cầu thành phẩm phải dậy đều, vàng đều mà không cháy. Điều đó đòi hỏi bạn phải có kinh nghiệm điều chỉnh nhiệt bếp than không để cháy thành lửa ngọn, đồng thời phải để ý khi bánh vừa dậy tới là trở ngay. Nếu bạn cảm thấy lò than hơi nóng quá thì chữa bằng cách tay quạt, tay trở bánh và nướng bắt đầu từ vành bánh nướng vào.
Cách ăn : Bẻ một miếng bánh tráng vừa ăn, xúc một muỗng hến đổ vào, quẹt thêm một chút tương ớt rồi ăn.
CÁC MÓN ĂN CHẾ BIẾN TỪ CON CÁ MÁT
Cá mát là loài cá của miền sơn cước, sống trong các hốc đá, khe suối, thức ăn của chúng chủ yếu là rêu đá. Bình thường cá mát chỉ lớn bằng 1-2 ngón tay, đặc biệt cũng có vài chỗ có con lớn bằng cá gáy cỡ khoảng gần 01 kg. Cá mát vảy trắng, dầu nhọn, xương nhỏ và mềm, thịt rất béo. Ăn cá mát những người sành ăn thường chọn con nhỏ vì xương nó mền có thể ăn ngang . Nếu bạn ngược dòng Ngàn Phố để đi về miền Hương Sơn, bạn sẽ có dịp thưởng thức món này. hoặc bạn lên vùng Tương dương, Con cuông thuộc vườn quốc gia Pù Mát có rất nhiều loại cá này
CÁ MÁT NƯỚNG
Nguyên liệu :
v Cá mát : chọn loại con lớn
v Gia vị : Tỏi, hành củ, ớt, tiêu, mật mía, chanh, vỏ quýt, muối
v Ắn kèm : Rau thơm, bánh tráng, rượu
Cách làm :
v Cá mát : cắt bỏ mang và ruột (do ăn rêu đá, nên ruột cá rất đắng, khi làm chú ý không để vỡ mật), cạo bỏ lớp màng đen trong ruột rồi xát một chút gừng với rượu cho thơm cá, rửa sạch và lau khô;
v Hành tỏi giã nát, trộn với tiêu, muối, mất mía rồi phết lên mình cá một lớp cho đều, vỏ quýt nhét vô bụng cá;
v Bắc vỉ lên bếp than hồng để nướng cá, khi hai mặt vàng đều, bạn quệt thêm một chút dầu ăn cho bóng, nhìn con cá hấp dẫn hơn:
v Khi ăn : Gỡ thịt cá chấm với nước mắm chua ngọt, hoặc tương, kẹp với bánh tráng nướng và rau thơm để nhậu.
v Bạn cũng có thể ăn theo kiểu cuốn cùng bún và bánh đa nem, rau sống.
CÁ MÁT KHO TƯƠNG
v Cá mát cỡ nhỏ và vừa thì bạn dùng để kho
v Cá làm sạch như trên, rồi đem nướng trên than hồng , xếp vô nồi, cho vỏ quýt, lá nghệ thái nhỏ, mật mía, tương và ớt bột vào, thêm nước chè sâm sấp mặt ngang và bắc lên bếp ninh như trong khoảng 2 canh giờ.
CÁ MÁT KHO NƯỚC MẮM
Nguyên liệu :
v Cá mát cỡ bằng bàn tay : 05 con
v Măng tươi : 01 củ cỡ nắm tay
v Gia vị : Hành tăm, nghệ tươi, ớt tươi, bột cà ri, nước mắm, dầu ăn
Cách làm :
v Cá mát cỡ nhỏ và vừa, làm sạch rồi đem chiên sơ
v Măng tươi : Cắt khúc, đem luộc đổ nước 3 lần rồi xếp vô nồi cùng với cá
v Hành tăm, nghệ tươi, ớt tươi giã nhỏ, phi thơm với dầu ăn rồi trút vô nồi cá, nêm nước mắm vừa mặn, bột cà ri, bắc lên bếp ninh chừng 01 canh giờ, khi nước kho cá sền sệt thì đuợc.
CÁ MÁT NẤU CANH CẢI XANH
Nguyên liệu :
v Cá mát : 03 con (loại bằng bàn tay)
v Cải xanh (cải sen) : 10 tàu
v Gừng tươi : 01 nhánh, hành, ngò, nước mắm, dầu ăn
Cách làm :
v Cá làm sạch, cho vào nồi luộc chín, vớt ra gỡ lấy thịt;
v Cải xanh : Rửa sạch, thái chỉ
v Gừng tươi : Gọt vỏ, rửa sạch thái sợi
v Hành ngò : Rửa sạch thái phần củ để tiêng, phần lá thái nhỏ
v Đập dập phần củ hành phi thơm, cho thịt cá vào xào cùng một chút nước mắm;
v Trút phần nước luộc cá vào đun sôi thì cho rau cải vào “cần tái, cải nhừ” là kinh nghiệm của các cụ, có nghĩa là món canh rau cải bạn nấu nhừ hơn các loại rau khác mới ngon;
v Khi canh chín, tắt bếp mới cho hành ngò và gừng tươi vào đảo đều, tra thêm một chút xíu nước mắm khi hoàn tất để lấy vị ngọt, rắc thêm tiêu ăn nóng.
Note :
v Bạn có thể nấu bằng rau bù ngọt thay cho rau cải
v Bạn cũng có thể thay cá mát bằng cá rô cũng rất ngon.
Ấn tượng canh ngao Cửa Lò, Nghệ An
Du lịch Cửa Lò trong cái nắng trải dài bãi biển. Mời bạn có dịp đến Nghệ An để thưởng thức rất nhiều món hải sản hấp dẫn, mang đặc trưng của vùng biển miền Trung. Song ấn tượng nhất có lẻ là bát canh ngao mang đủ vị chua, chát, cay, mặn như thách thức.
http://www.bongda37.com/wp-content/uploads/2009/09/0-aa0canhngaonghean-300x194.jpg
Ngao nấu canh có thể chúng ta được ăn khá nhiều lần nhưng với cách nấu tại vùng biển Cửa Lò thì rất là tuyệt. Từ nguyên liệu, gia vị cho đến cách chế biến đều đem đến cho người thưởng thức những cảm nhận mới lạ. Có lẽ, chính những đặc trưng ẩm thực vùng miền đã khiến bát canh ngao trở nên ấn tượng với du khách gần xa. Trong cảm nhận chung của du khách, bát canh ngao bình dị ăn kèm cà muối như xua đi cái nắng gắt gao của miền Trung đồng thời khiến chuyến đi thêm phần thú vị.
Thông thường người Hà Nội nấu canh ngao, hến bao giờ cũng luộc sơ, tách bỏ vỏ chỉ lấy phần thịt nấu canh. Canh ngao Cửa Lò khiến chúng ta tròn mắt ngạc nhiên khi bắt gặp những con ngao còn nằm nguyên trong vỏ. Sau phút ngỡ ngàng ban đầu ta lại thấy thích thú với tô canh ấy. Thú vị nhất là việc vừa xì xụp húp canh vừa đưa tay nhặt ngao, nhẩn nha tận hưởng phần thịt ngao tươi, ngọt, dai dai còn nguyên vị biển.
Gia vị cho món canh ngao tại đây cũng thật khác biệt. Thông thường bát canh ngao chua của người Hà Nội dùng me, thêm chút hành hoa thì bát canh ngao Cửa Lò lại xuất hiện rất nhiều gia vị mới lạ. Vị chua được tạo ra bởi quả chay phơi khô. Người dân ở đây không dùng hành lá nấu canh mà thay vào đó là lá lốt, lá dấp cá. Chính vì vậy, nếu là người khảnh ăn du khách sẽ khó mà thích nghi với hương vị đặc biệt của bát canh. Ấn tượng nhất có lẽ là vị chát được tạo bởi đôi ba quả sung. Chính vị chát nhẹ dịu, duy nhất có trong bát canh ngao Cửa Lò này đã tạo sự khác biệt, gây tò mò với nhiều du khách khi tới đây.
Rời vùng biển Cửa Lò, rất có thể các bạn sẽ mang theo rất nhiều tiếc nuối, tiếc vì phải rời xa biển trở lại với cái nắng nóng của phố xá, tiếc vì chưa có dịp tận hưởng hết những đặc sản nơi đây như món canh ngao, món câu mực .…
Cảm xúc khi lần theo câu ca để đi tìm hương vị xứ Nghệ
Người Xứ Nghệ có câu “muối mặt xin tương”. Ấy là nói đến cái hoàn cảnh thực trạng của vùng đất chỉ học là giỏi, còn kinh doanh buôn bán thì không thành thạo bằng người xứ khác. Tương cà mắm muối làm ra để ăn là chính, chứ không phải để đem kinh doanh làm giàu. Có những thứ biết là ngon đó, nhưng muốn ăn phải chịu khó lặn lội, đi thực tế xuống nông thôn, tới các chợ quê mới có mà ăn. Như món tương đã nói ở trên chẳng hạn, bây giờ thì mới có bán chứ ngày xưa muốn ăn tương mà không tự muối lấy thì chỉ có nước vác đọi, muối mặt đi xin chòm xóm, chứ đừng hòng cậy có tiền cũng không có chỗ bán mà mua. Bởi thế nên nhà thơ Huy Cận đã viết:
Tình Xứ Nghệ không mau
Nhưng bén rồi sâu lắng
Khách lạ đến miền đất này, nếu chưa kịp ở đã vội vã đi ngay, sẽ không có cơ hội cảm nhận được cái hương vị “sâu lắng” ẩn dật trong tâm hồn của một miền nắng gió.
Ai ơi cà Xứ Nghệ
Càng mặn lại càng dòn
Nước chè xanh Xứ Nghệ
Càng chát lại càng ngon.
Huy Cận
Khi bắt tay vào chế biến một số món ăn quê hương của xứ Nghệ , nhiều người cho rằng không phải của Xứ Nghệ. Nhưng khi tôi hỏi lại :”thế bạn thấy nó là của xứ nào?” thì dở sách ra chẳng có sách nào có công thức chế biến nào giống xứ Nghệ . Không chỉ một món, mà rất nhiều món. Điều đó chứng tỏ Xứ Nghệ xưa kia đã là vùng đất có nền văn hoá ẩm thực phát triển mạnh mẽ. Hơn thế nữa, tham khảo trong đối đáp thơ ca hò vè, con gái Xứ Nghệ cũng ngầm thể hiện sức mạnh tâm hồn và đôi tay khéo léo của mình trong nữ công gia chánh. Những lời đối đáp sắc bén của các nam thanh nữ tú về ẩm thực đã tô điểm phần hồn cho hương vị Xứ Nghệ rất nhiều. Đó là yếu tố mà tôi cho là thế mạnh nổi trội của ẩm thực miền Trung.
Có trù cho miếng bạn mồ,
Gọi rằng tình nghĩa khi mô đến dừ.
Tôi đã ngồi ngẩn tò te khi đọc được câu ca dao này. Rồi lại liên tưởng đến người bạn nói câu “cho tau đón mi cấy mi mồ” khi tôi về quê. Khó mà miêu tả được cái cảm xúc lắm, nó thật đến ngô nghê làm cho trái tim tôi không ra đau cũng không ra lành lặn. Dùng từ tê dại thì cũng không đúng, nhưng có lẽ là gần như thế!
Ừ thì truyền thống dù có thăng trầm vẫn là truyền thống. Dù cho có thời gian vì chiến tranh, vì sự tiết kiệm để kháng chiến dành độc lập dân tộc mà phải dản dị đơn sơ. Nhưng bây giờ, khi đất nước hòa bình, muốn thể hiện sự phồn thịnh của đất nước quê hương, rõ ràng phải thể hiện bắt đầu từ cái ăn, cái mặc, cái giao lưu văn hoá. Chờ đợi mãi một đầu bếp Xứ Nghệ thực thụ ra tay gầy dựng lại nền ẩm thực quê nhà mà không thấy đâu. Món ăn mà tôi biết được thưởng thức do mẹ tôi bà tôi và các nhà hàng dân dã mà tôi biết
Chè ngon nước chát xin mời
Nước non non nước không nguôi nghĩa tình.
Thi vị cho tôi cũng đó, mà khó cho tôi cũng chính là đó. Xứ Nghệ ngược đời, xưa nay viết về ẩm thực toàn là nhà văn, nhà thơ. Cho nên miếng cà mặn ngoài đời còn thua cả sự mặn mòi trong tâm hồn; Miếng ớt, miếng gừng cay cũng đâu có cay được bằng sự xót xa trong lòng người mỗi khi nghe “Miền Trung mỏng và sắc như cật nứa” (1). Do vậy công thức gia giảm món ăn của người xứ Nghệ, không chỉ có hành, tỏi, mắm, muối như thông thường, mà phải gia vị cả hương vị tâm hồn mới hòng đủ độ đậm đà mà người Xứ Nghệ mong muốn. Đã có những buổi sáng, tôi ngồi trong mảnh vườn bé nhỏ của mình hàng giờ với một tách cà phê và mấy câu ca dao để tìm cho ra cái hương vị tâm hồn của món ăn trước đã, và không ít lần như thế tôi đã đỏ con mắt khi tìm tìm cho mình một bữa cơm xứ Nghệ đúng nghĩa .
Nồi dấm mà nấu cà kiu
Anh ăn mát ruột chín chìu em thương.
Xứ Nghệ xưa kia đã từng là vùng đất phồn thịnh, thương mại phát triển rực rỡ, những chuyến buôn từ Nghệ An ra Thăng Long thường mang theo rất nhiều tiền, nên ở đất kinh đô mới có câu “Cơm Văn Giáp, táp Cầu Giền, chè Quán Tiên, tiền Thanh Nghệ” . Cao Bá Quát cũng từng viết:
Ngán thay cái mũi vô duyên
Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An.
“Con thuyền Nghệ An” mà Cao Bá Quát nói tới chính là con thuyền của phường buôn nước mắm Vạn Phần, đó là một đặc sản nổi tiếng một thời của Xứ Nghệ.
Em về Kẻ Vạn mà xem
Ruộng nương thì ít, cá tôm thi nhiều
Em đừng có làm kiêu
Đất Vạn phần vui lắm
Chỉ ba thùng nước mắm,
Trẩy một chuyến kinh kỳ,
Đủ ăn chơi phủ phê,
Đủ quần ba áo bảy…
Tôi bịa thế nào được khi mà món ăn mang ngôn ngữ địa phương, lại có gốc gác tên làng tên xóm như:
Cơn Da ba nhánh chín chồi
Ai về Kẻ Bấn ăn xôi thì về.
Hay là :
“Đi ngang về tắt, đừng quên nác dắt Kẻ Hạ”
Xôi của Kẻ Bấn là loại xôi khi đồ chín thì vắt thành nắm, lăn vào vừng rang thành một lớp áo, rồi lại chấm với muối vừng để ăn. Kẻ Hạ là làng Hạ thuộc huyện Đức Thọ, vùng quê nổi tiếng với truyền thuyết con hến sông La .
Thịt chó chợ Bè, tro Kè làng Đông
Nói đến trò kè làng Đông, lại phải nói thêm câu nữa:
Bánh đúc trấy tro, bán bò nỏ kịp.
Quả là một món ăn chưa hề có bán ở chợ. Trấy tro (quả cọ) chín vào tiết đông chí (tháng 11 âm lịch), bà con trảy xuống rồi đem om trong nước ấm như om quả trám, sau đó tách lấy phần cùi để kho thịt, kho cá và bẻ bánh đúc ăn cùng; Hay như bánh mọi ở đền Tâm Phúc, cá rô Bàu Nón là những món ăn đã đi vào lịch sử:
Cá rô Bàu Nón kho với tương Nam Đàn
Gạo tháng mười cơm mới, đánh tràn không biết no.
Mặn như nhút, như cà hoá ra lại đi vào thơ ca một cách mặn mòi hơn cả khi mà lời ca của người con gái cất lên, người Thanh Chương gần như tất cả đều muốn về quê ngay theo câu hát.
“Chứ ngái ngôi chi mà anh nỏ về
Hay là vì quê em nghèo đói
Hay anh chê em vụng về câu nói
Đất Thanh Chương nhút mặn chua cà…”
Khi tôi liệt kê danh mục để viết bài mới thấy là có khá nhiều nhưng thứ bánh trái của Hà Tĩnh chưa hề được nhắc tới trong từ điển ẩm thực Việt Nam, như bánh trắng, bánh trong, bánh mật, bánh sắn, bánh khoai, bánh mọi…
Khéo thì bánh lọc, bánh trong,
Vống thì gánh nước cho còng lưng tôm.
Bánh của Xứ Nghệ thật là ngon đến ra nông nỗi:
Bánh đúc, bánh đỗ,
Ai chộ cũng them
Chồng hay đánh em
Cũng vì đúc, độ.
Hay là khoái khẩu đến độ:
Hai ướt một ráo, cổi áo mà ăn.
Nhẹ nhàng hơn, người Đô Lương khoe:
Đô Lương mình có chợ Lường
Có bánh khô kẹp độ đường với kê.
Người xứ Nghệ có sự thông minh linh lợi ở chỗ đưa món ăn quê hương mình vào trong thơ ca để truyền đời cho con cháu. Văn phong sử dụng lối từ ngữ bản xứ mộc mạc, quê mùa, vừa dễ nhớ lại vừa khẳng định được chắc chắn đó là hương vị Xứ Nghệ. Cũng nhờ vậy mà bây giờ, khi tôi muốn thuyết phục ai đó rằng món ăn này gốc gác là của Xứ Nghệ, tôi chỉ cần đem thơ ra là đã có cơ sở để thuyết phục rồi.
Ngày chẵn em đi chợ Chùa,
Cá thịt bảy dãy, em chỉ mua nham về
Ngày lẻ chợ Sở sát kề
Em lượn nửa buổi, chỉ mua về đùm nham.
***
Tép khô nấu nụ bồng bồng
Chết chôn xuống đất cũng vồng lên ăn.
Bác Hồ cũng từng viết ca ngợi món ăn của quê hường Nam Đàn:
Sa Nam trên chợ dưới đò
Bánh đúc hai dãy, thịt bò mê thiên
Có những câu ca dao rất hóm hỉnh, mà người Xứ khác mới nghe khó bề mà hiểu ra đó là anh học sĩ tương tư món ăn chứ chẳng phải tư tình gì với cô nao cô nào đâu.
Đêm năm canh nhớ nàng Cô Đạnh,
Ngày sáu khắc nhớ má với cằm.
Ở Đông Lỗ (Thạch Hà) ngày trước có một xóm được đặt tên theo món ăn là quán Đỗ Đen. Ở đây có bán món cháo đỗ đen nấu với lá tía tô, là một món ăn bài thuốc trị rôm sảy mùa hè, giải cảm mạo mùa đông. Có một nhà nho khi đến ăn cháo đỗ đen ở quán này đã đưa ra một vế đối mà cho đến nay chưa ai đối được ;
Vô Đỗ Đen, ăn đỗ đen, hết vận đen, ra thi đỗ
Thịt ếch với nhà hàng ngày nay là đặc sản, ấy vậy mà xưa kia ở Cẩm Xuyên lại có vùng đồng trũng ăn ếch đến phát ngán:
Yên Hầu, Yên Lạng
Bắt ếch tứ mùa
Em đã thương anh chưa
Về sắm ngoèo, đẽo ngoắc
Thịt cò, thịt vạc
Nỏ đến phần mô
Thịt ếch với bù khô
Ăn tra đời trọn kiếp.
Tôi thầm cám ơn sự may mắn của mình khi có trong tay những câu ca dao, những câu chuyện truyền thuyết dân gian, những câu chuyện lịch sử, là phần hồn để làm thi vị những món ăn do mình chế biến. Nhưng đồng thời tôi cũng thấy lo lắng, liệu mình có xứng đáng không khi mà phần hồn của món ăn Xứ Nghệ thực sự đã lớn lao đến nhường ấy? Liệu cà của tôi muối có mặn được như trong thơ Huy Cận; nhút của tôi làm có chua được đến mức nghe thôi đã muốn về như bài hát “ Thanh Chương mời bạn về thăm”? Đã cay chưa, đã mặn chưa? Đã chua chưa, chát chưa? Đã ngọt, đã bùi chưa?
TÔM KHÔ RIM NUỚC DỨA
Nguyện liệu :
Tôm khô : 200 gr
Nước dứa ép : nửa bát ăn cơm
Tiêu, nước mắm, ớt bột, dầu ăn, hành củ, tỏi
Cách làm :
Tôm khô đem ngâm vào nước ấm chừng 30 phút cho mềm;
Phi thơm hành mỡ, cho tôm vào xào sơ, rồi đổ nuớc sâm sấp, đun nhỏ lửa cho đền khi cạn;
Cho nước dứa, nước mắm, ớt bột vào đảo đều, đun cho đến lúc cạn thì dùng đũa dảo liề tay cho dến khi dầu và gia vị bám đều vào tôm, tắt bếp rắc thêm tiêu.
Note :
Không cho nước mắm vào khi hầm, tôm sẽ rất cứng khó ăn, mà phải đợi hầm trong nước cho tôm thấm nước mềm ra mới cho nước mắm.
TÔM KHÔ RIM THỊT BA CHỈ
Nguyên liệu :
Tôm khô : 200 gr
Thịt ba chỉ : 200 gr
Hành, tỏi, tiêu, nước mắm, nước hàng, mật mía
Cách làm :
Tôm làm như món tôm rim nước dứa;
Thịt ba chỉ luộc chín, rồi thái thỏi cỡ bằng ngón tay út, cho vào chảo rán vàng cạnh;
Khi tôm chín nhừ, nước cạn, thì cho thịt ba chỉ và các thứ gia vị còn lại, đảo đều và đơi cho cạn sền sệt thì đuợc.
Tắt bếp hoặc khi ăn mới rắc tiêu.
NỘM TÔM KHÔ NHÚT MÍT
Nguyên liệu :
Mít xanh thành phẩm : 200 gr
Tôm khô : 100 gr
Thịt ba chỉ : 100 gr
Lạc nhân : 50 gr
Gia vị : Tỏi, ớt tươi, hành củ, chanh, đuờng, nước mắm cốt
Cách làm :
Nhút :Mít xanh chon loại huờng hường sắp đến độ chín, đem bổ ra và chỉ chọn lấy phần xơ, cho vào cối giã dập, rồi đổ nước muối pha loãng tỉ lệ một lít nước/70 gr muối, đun sôi để nguội, lèn chặt để chừng ba hôm thì chua.
Tôm khô ngâm nước ấm cho nở mềm, chần lại qua nước sôi để sát trùng, vẩy ráo nước, rồi xẻ dọc đôi con tôm;
Thĩt ba chỉ luộc chín thái mỏng;
Lạc rang vàng sảy vỏ giã dập; Hành tỏi ớt giã nhuyễn;
Nhút mít vắt sơ nước rồi trộn tất cả gia vị nói trên cho vừa ăn như trộn những món nộm khác.
Note :
Nhút đã mặn cho nên nước mắm chỉ cho rất ít gọi là có vị thơm ngon mà thôi;
Bạn có thể thay nhút mít bằng mướp đắng (nếu ăn đuợc), nhưng mướp đắng thì không muối mà làm nộm sống.
Món dành cho trời mưa và lạnhhttp://slna-fc.com/diendan/vietuni8/images/smileys/22.gif
Ngan nấu giả cầy
http://i141.photobucket.com/albums/r55/phlanhoa/ngangiacay.jpg
Ngồi xem mưa rơi, mà mấy đứa ghiền cầy tơ nó nhắc khéo: “Trời mưa ni mà có thịt cầy nhỉ”. Cầy thì không có, nhưng có ngan làm sẵn thì có và đang tính nấu xáo măng. Rứa là chuyển qua giả cầy. .
Sơ chế ngan:
Khi đi chợ mua gà, vịt, ngan, ngỗng, bà con nhớ mua kèm một vài ngàn bạc chè xanh. Về nhà cho vào nồi khoảng dăm sáu lít nước đun sôi. Chè rửa sạch vo cho thật nát, không phải để uống nên không cần xanh, đun kỹ một chút vì nước càng chát thì làm gà vịt càng mau sạch. Gà, vịt, ngan sau khi cắt tiết rồi, múc bớt một nửa nước chè dành lại để rửa nước sau. Nửa còn lại cho gà, ngan, vịt vào trụng để vặt lông. Nước chè xanh sẽ làm cho việc vặt lông được dễ dàng hơn, đồng thời khử mùi hôi lông một cách hiệu quả. Thậm chí sau khi làm xong, bếp không hề bị tanh hôi gì cả. Làm sạch lòng mề xả sạch xong, thi bà con đổ nửa nước chè xanh còn lại vào ngâm gà, vịt, ngan chừng mươi phút, vớt ra là thơm như nước chè xanh luôn; Nếu còn dư, bà con để lại một gáo, sau đó rửa dao thớt luôn cho sạch mùi. Chọn ngan, vịt thường khó chọn hơn gà, vì không khéo mà gặp phải con có lông măng là coi như còng lưng cả buổi. Đầu tiên ta phải có tầm nhìn bao quát từ xa. Cứ con nào lông có độ dài bằng nhau, nhìn mượt mà thì bộ lông đó đã qua thời kỳ thay lông, không còn lông măng nữa. Những con lông lù xù thiếu độ bóng mượt, lại cây dài cây ngắn là đang trong thời kỳ thay lông, khi làm thịt sẽ rất lắm lông măng. Làm thịt xong rồi thì bà con kiếm nắm rơm để mà thui cho có mùi khói thì giả cầy mới ngon. Ở thành phố không kiếm đâu ra rơm thì bà con đến quán nước mía xin nắm bã mía, về đốt lò than lên rồi thả bã mía vô cho cháy mà xông.
Ngan thui rồi thì đem nấu cùng công thức như nấu thịt chó vậy. Và mức độ ngon lành cũng không thua thịt chó đâu nhá.
vBulletin® v3.8.5, Copyright ©2000-2010, Jelsoft Enterprises Ltd.