Test

PDA

View Full Version : Góc Tâm linh!


LazyCat
01-08-09, 18:48
Trong cuộc sống hạnh phúc gia đình là điều ai cũng mong muốn, phàm làm người phải lấy can trường làm đạo trọng.
Trai thì chọn lưa gái đức và số mệnh giờ - ngày – tháng – năm sinh tốt để được yên vui gia đình và có con nối hậu.
Gái thì chọn lựa trai có tài và số mệnh giờ - ngày – tháng – năm sinh tốt để gửi phận trao duyên một đời được yên vui.
Quan điểm ngày xưa theo tục lệ: “ Nhất là cao lễ, dễ thưa. Nhì là phải có người ưa, người chiều”
Nhưng cách đúng nhất là các bậc cha mẹ thường là phải nhờ thầy coi hộ tuổi để quyết định luương duyên con cái.
Nhiều bạn trẻ mắc sai lầm là yêu theo bản tính mà chưa thận trọng trong việc chọn ban đời. Bởi thế cho nên có cảnh: Lộn khôn gia, người sinh ly, kẻ tử biệt đôi đường. Ôi thôi thảm trạng ấy chất đầy non. Bởi không ai chỉ dẫn thấu đáo.
Bởi vậy trong cẩm nang này sẽ giúp bạn tự mình xem, nghiên cứu lấy để tìm bạn trăm năm mà không cần phải hỏi ai – Thông qua bằng hai phương pháp luận xem ngũ hành và bát quái.

Ngũ Hành gồm: Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ

Ngũ Hành Tương Sinh
( Tốt )
Kim sinh Thủy – Thủy sinh Mộc
Mộc sinh Hỏa – Hỏa sinh Thổ
Thổ sinh Kim – Kim sinh Thủy
Ngũ Hành Tương Khắc
( Không Tốt )
Kim khắc Mộc – Mộc khắc Thổ
Thổ khắc Thủy – Thủy khắc Hỏa
Hỏa khắc Kim – Kim khắc Mộc
Ngũ Hành Tương Lưỡng

Lưỡng kim – Kim khuyết (mẻ) Tương khắc
Lưỡng mộc – Mộc triết (gãy) Tương khắc
Lưỡng thủy – Thủy kiệt (khô) Tương khắc
Lưỡng Hỏa – Hỏa quang (tắt) Tương khắc
Lưỡng Thổ - Thổ hành sơn (núi) Tương sinh

Cách Xem:
Trước hết phải xác định được:
Tuổi của người nam trong ngũ hành đứng mệnh gì: ( Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) sau đó so sánh trong Tương sinh, Tương khắc và kết luận:

Ngũ hành Tương sinh là tốt
Ngũ hành Tương khắc là xấu.
Ngoài ra, nếu gặp trường hợp nam nữ trong ngũ hành cùng mệnh thì xem ngũ hành tương lưỡng (Trong 5 mệnh của ngũ hành tương lưỡng chỉ có lưỡng thổ là tốt)

BÁT QUÁI
Trong bát quái gồm 2 cung:
1 – Càn 2 – Khảm
3 – Cấn – 4 – Chấn
5 – Tốn – 6 – Ly
7 – Khôn – 8 – Đoài

Bạn muốn biết tuổi của mình rơi vào mệnh gì trong ngũ hành và nằm vào cung nào trong bát quái. Cẩm nang này sẽ giúp bạn tìm hiểu:

PHƯƠNG THỨC LẬP MỆNH HOA GIÁP ĐỊNH LUẬT SỐ

Tuổi Cung Tuổi Cung Mệnh
1 2 3 4 5
Giáp Tý Chấn Ất Sửu Tốn Kim
Bính Dần Khảm
Mậu Thìn
Canh Ngọ
Nhâm Thân
Giáp Tuất
Bính Tý
Mậu Dậu
Canh Thìn
Nhâm Ngọ
Giáp Thân
Bính Tuất
Mậu Tý
Canh dần
Nhâm Thìn
Giáp Ngọ
Bính Thân
Mậu Tuất
Canh Tý
Nhâm Dần
Giáp Thìn
Bính Ngọ
Mậu Thân
Canh Tuất
Nhâm Tý
Giáp Dần
Bính Thìn
Mậu Ngọ
Canh Thân
Nhâm Tuất
Đoài
Ly
Khôn
Càn
Cấn
Khảm
Chấn
Ly
Khôn
Tốn
Càn
Cấn
Khảm
Ly
Khôn
Tốn
Càn
Cấn
Tốn
Càn
Cấn
Khảm
Chấn
Cấn
Khảm
Chấn
Khôn
Tốn Đinh Mão
Kỉ Tị
Tân Mùi
Quí Dậu
Ất Hợi
Đinh Sửu
Kỷ Mão
Tân Tỵ
Quí Mùi
Ất Dậu
Đinh Hợi
Kỉ Sửu
Tân Mão
Quí Tỵ
Ất Mùi
Đinh Dậu
Kỷ Hợi
Tân Sửu
Quý Mão
Ất Tỵ
Đinh Mùi
Kỷ Dậu
Tân Hợi
Quý Sửu
Ất Mão
Đinh Tị
Kỷ Mùi
Tân Dậu
Quý Hợi Càn
Cấn
Khảm
Chấn
Đoài
Ly
Khôn
Tốn
Càn
Chấn
Chấn
Đoài
Ly
Khôn
Khảm
Chấn
Cấn
Đoài
Ly
Đoài
Đoài
Ly
Khôn
Tốn
Ly
Khôn
Tốn
Càn
Cấn Hỏa
Mộc
Thổ
Kim
Hỏa
Thủy
Thổ
Kim
Mộc
Thủy
Thổ
Hỏa
Mộc
Thủy
Kim
Hỏa
Mộc
Thổ
Kim
Hỏa
Thủy
Thổ
Kim
Mộc
Thủy
Thổ
Hỏa
Mộc
Thủy

Từ bảng phương thức lập mệnh. Hoa giáp định luật số trên, các bạn đã có thể luận về ngũ hành như đã hướng đẫn được rồi.
Bây giờ chúng ta luận sang bát quái, các cụ thường có câu: “Lấy Vợ xem tuổi đàn bà” do vậy phải căn cứ vào bảng sau đây để xem cung của người nữ khi xây dựng với cung của người nam sẽ gặp chữ gì (Sau đó sẽ có phần giải thích)

Lấy vợ xem tuổi đàn bà

1. Càn thú Khảm vi du hồn
Càn thú Cấn vi phúc đức
Càn thú Chấn vi thiên y
Càn thú Tốn vi ngũ quỷ
Càn thú Ly vi tuyệt mệnh
Càn thú Khôn vi ngũ quỷ
Càn thú Đoài vi sinh khí

2. Khảm thú Chấn vi thiên y
Khảm thú Chấn vi phúc đức
Khảm thú Tốn vi sinh khí
Khảm thú Ly vi ngũ quỷ
Khảm thú khôn vi tuyệt mệnh
Khảm thú Đoài vi ngũ quỷ
Khảm thú Càn vi du hồn
Khảm thú Khảm vi phục vị

3. Cấn thú Chấn vi du hồn
Cấn thú Tốn vi ngũ quỷ
Cấn thú Ly vi phúc đức
Cấn thú Khôn vi sinh khí
Cấn thú Đoài vi tuyệt mệnh
Cấn thú Càn vi phúc đức
Cấn thú Khảm vi thiên y
Cấn thú Cấn vi phục vị

4. Chấn thú Ly vi thiên y
Chấn thú Khôn vi ngũ quỷ
Chấn thú Đoài vi tuyệt mệnh
Chấn thú càn vi sinh khí
Chấn thú Khảm vi phúc đức
Chấn thú Cấn vi du hồn
Chấn thú Chấn vi phục vị

5. Tốn thú Ly vi phúc đức
Tốn thú khôn vi thiên y
Tốn thú Đoài vi thiên y
Tốn thú Càn vi ngũ quỷ
Tốn thú Khảm vi sinh khí
Tốn thú Cấn vi ngũ quỷ
Tốn thú chấn vi tuyệt mệnh
Tốn thú tốn vi phục vị

6. Ly thú Khôn vi du hồn
Ly thú càn vi tuyệt mệnh
Ly thú Cấn vi phúc đức
Ly thú Tốn vi ngũ quỷ
Ly thú Đoài vi thiên y
Ly thú Khảm vi tuyệt mệnh
Ly thú Chấn vi sinh Khí
Ly thú Ly vi phúc đức

7. Đoài thú Càn vi sinh khí
Đoài thú Cấn vi tuyệt mệnh
Đoài thú Tốn vi du hồn
Đoài thú Khôn vi phúc đức
Đoài thú Khảm vi phục vị
Đoài thú Chấn vi tuyệt mệnh
Đoài thú Ly vi thiên y
Đoài thú Đoài vi phục vị


PHẦN GIẢI THÍCH:
Du hồn: Tốt trung bình, vợ chồng vui vẻ, nhà cửa đầm ấm – Trong nhà hay treo hình ảnh ảo tưởng – Du dương văn nghệ, hình ảnh bay cao mơ mộng, con cái sinh hoạt bình thường.

Thiên y: Duyên nợ lâu dài, trong ấm ngoài êm, tinh thần vật chất.

Tuyệt mệnh: Gãy gánh giữa đường, từ biệt sinh ly, tiêu hao buồn phiền.

Sinh khí: Tương hợp giai ngâu, tài lộc hòa hợp, gia giáo huy hảo, phúc đức tổ phùng lai, con cha cháu ông phát đạt từng lúc, hòa hợp tâm linh.

Phúc đức: Trăm năm thỏa nguyện an bài duyên nợ, gia đình no đủ yên ấm, may mắn có uy quyền.

Ngũ quỷ: Xào xạc, bất lợi, xáo trộn bất hòa, cửa nhà bại hoại, chật vật lận đận, rắc rối phiền não

Phục vị: Người phụ nữ đảm đang, tề gia nội trợ tốt, việc nhà việc công ra tay gắng sức con cháu đông vui, chồng con được nhờ, tôn trọng trong ngoài, sống lâu phúc đức.

Tham khảo thêm:
Trai tuổi: Dần – Mão – Thìn lấy vợ tuổi Tỵ gặp cô thần, Sửu gặp quả tú
Trai tuổi: Tỵ - Ngọ - Mùi lấy vợ tuổi Thân gặp cô thần, Thìn gặp quả tú
Trai tuổi: Thân – Dậu – Tuất lấy vợ tuổi Hợi gặp cô thần, Mùi gặp quả tú
Trai tuổi: Hợi – Tý – Sửu lấy vợ tuổi Dần gặp cô thần, Tuất gặp quả tú
Ghi chú: Nếu gặp cô thần – Quả tú thì lương duyên trễ chầy gặp rắc rối, luôn luôn bị mệnh khổ tâm sầu

Ví dụ 1: Nam tuổi Mậu thân: Mệnh Thổ - Cung Cấn
Nữ tuổi Kỷ Dậu: Mệnh Thổ - Cung Ly
Phân tích: Mệnh thổ gặp mệnh thổ là Ngũ hành tương lưỡng: Lưỡng thổ thành sơn (tốt)
Cung Ly thú Cấn vi phúc đức: Trăm năm thỏa nguyện an bài, duyên nợ, gia đình no đủ, êm ấm, nhiều may mắn, có uy quyền – vĩnh niên một bề
Kết luận: Hai tuổi này là lương duyên tốt.
Ví dụ 2: Nam tuổi Nhâm Ngọ: Mệnh Mộc – cung Ly
Nữ tuổi nhâm Thìn: Mệnh Thủy – cung Khảm
Phân tích: Mệnh thủy gặp mệnh Mộc là ngũ hành tương sinh: thủy sinh mộc là được, song chớ vội kết luận vì trong bát quái: Khảm thú Ly vi ngũ quỷ là xấu hơn nữa phần tham khảo lại cho ta biết: Trai tuổi Ngọ lấy gái tuổi Thìn là gặp quả tú.
Kết luận: Hai tuổi này lương duyên xấu, lương duyên này sẽ dẫn đến tâm sầu ý khổ, nếu không cẩn thận sẽ gãy gánh giữa đường, chia ly hai ngả.

LazyCat
01-08-09, 18:53
PHẦN HAI

Nói đến Bát Cẩm Trạch tức là bàn về xem hướng nhà cửa tốt hay xấu, phần lớn các bạn trước khi xây dựng nhà cửa chỉ xem ngày động thổ, đào móng, ngày cất nóc……. Mà không chú ý tới hướg nhà, do vậy vẫn là thiếu sót. Có những điều không hay xảy ra lại chẳng biết nguyên nhân tại đâu.
Xin giúp các bạn tài liệu quí này để lưu truyền mãi mãi.

Giáp Tý kim mệnh Khảm Trạch

Chính Đông phúc đức Đông Nam sinh khí
Chính Nam thiên niên Tây Nam tuyệt mệnh
Chính Tây họa hại Tây Bắc lục sát
Chính Bắc phục vị Đông Bắc ngũ quỷ

Ất Sửu kim mệnh Ly Trạch

Chính Đông sinh khí Đông Nam phúc đức
Chính Nam phục vị Tây Nam tuyệt mệnh
Chính Tây ngũ quỷ Tây Bắc họa hại
Chính Bắc diên niên Đông Bắc lục sát

Bính Dần hỏa mệnh Cấn Trạch

Chính Đông lục sát Đông Nam tuyệt mệnh
Chính Nam họa hại Tây Nam sinh khí
Chính Tây diên niên Tây Bắc phúc đức
Chính Bắc ngũ quỷ Đông Bắc phục vị.

Đinh Mão hỏa mệnh Đoài Trạch

Chính Đông tuyệt mệnh Đông Nam lục sát
Chính Nam ngũ quỷ Tây Nam phúc đức
Chính Tây phục vị Tây Bắc sinh khí
Chính Bắc họa hại Đông Bắc diên niên

Mậu Thìn mộc mệnh Càn Trạch

Chính Đông ngũ quỷ Đông Nam họa hại
Chính Nam tuyệt mệnh Tây Nam diên niên
Chính Tây sinh khí Tây Bắc phục vị
Chính Bắc phúc đức Đông Bắc lục sát

Kỷ Tỵ mộc mệnh Khôn Trạch

Chính Đông họa hại Đông Nam ngũ quỷ
Chính Nam lục sát Tây Nam phục vị
Chính Tây phúc đức Tây Bắc diên niên
Chính Bắc tuyệt mệnh Đông Bắc sinh khí

Canh Ngọ thổ mệnh Tốn Trạch

Chính Đông diên niên Đông Nam phục vị
Chính Nam phúc đức Tây Nam ngũ quỷ
Chính Tây lục sát Tây Bắc họa hại
Chính Bắc sinh khí Đông Bắc tuyệt mệnh

Tân Mùi thổ mệnh Chấn Trạch

Chính Đông phục vị Đông Nam diên niên
Chính Nam sinh khí Tây Nam họa hại
Chính Tây tuyệt mệnh Tây Bắc ngũ quỷ
Chính Bắc phúc đức Đông Bắc lục sát

Nhâm Thân kim mệnh Khôn Trạch

Chính Đông họa hại Đông Nam ngũ quỷ
Chính Nam lục sát Tây Nam phục vị
Chính Tây phúc đức Tây Bắc diên niên
Chính Bắc tuyệt mệnh Đông Bắc sinh khí

Quý Dậu kim mệnh Khảm Trạch

Chính Đông phúc đức Đông Nam sinh khí
Chính Nam diên niên Tây Nam tuyệt mệnh
Chính Tây họa hại Tây Bắc lục sát
Chính Bắc phục vị Đông Bắc ngũ quỷ

Giáp Tuất hỏa mệnh cấn Trạch

Chính Đông sinh khí Đông Nam phúc đức
Chính Nam phục vị Tây Nam lục sát
Chính Tây ngũ quỷ Tây Bắc tuyệt mệnh
Chính Bắc diên niên Đông Bắc họa hại

Ất Hợi hỏa mệnh Đoài Trạch

Chính Đông lục sát Đông Nam tuyệt mệnh
Chính Nam họa hại Tây Nam phục vị
Chính Tây diên niên Đông Bắc sinh khí


Bính Tý thủy mệnh Khôn Trạch

Chính Đông tuyệt mệnh Đông Nam lục sát
Chính Nam họa hại Tây Nam sinh khí
Chính Tây diên niên Tây Bắc phúc đức
Chính Bắc ngũ quỷ Đông Bắc phục vị

Đinh Sửu thủy mệnh Càn Trạch

Chính Đông ngũ quỷ Đông Nam họa hại
Chính Nam ngũ quỷ Tây Nam phục vị
Chính Tây sinh khí Tây Bắc phúc đức
Chính Bắc lục sát Đông Bắc phục vị

Mậu Dần thổ mệnh Khôn Trạch

Chính Đông họa hại Đông Nam ngũ quỷ
Chính Nam lục sát Tây Nam phục vị
Chính Tây phúc đức Tây Bắc sinh khí
Chính Bắc tuyệt mệnh Đông Bắc diên niên

Kỷ Mão thổ mệnh Tốn Trạch

Chính Đông diên niên Đông Nam phục vị
Chính Nam phúc đức Tây Nam ngũ quỷ
Chính Tây lục sát Tây Bắc họa hại
Chính Bắc sinh khí Đông Bắc tuyệt mệnh

Canh Thìn kim mệnh Chấn Trạch

Chính Đông phục vị Đông Nam diên niên
Chính Nam sinh khí Tây Nam lục sát
Chính Tây tuyệt mệnh Tây Bắc ngũ quỷ
Chính Bắc phúc đức Đông Bắc họa hại

Tân Tỵ kim mệnh Khôn Trạch

Chính Đông họa hại Đông Nam ngũ quỷ
Chính Nam lục sát Tây Nam phúc đức
Chính Tây phục vị Tây Bắc diên niên
Chính Bắc tuyệt mệnh Đông Bắc sinh khí

Nhâm Ngọ mộc mệnh Khảm Trạch

Chính Đông phúc đức Đông Nam sinh khí
Chính Nam diên niên Tây Nam tuyệt mệnh
Chính Tây họa hại Tây Bắc lục sát
Chính Bắc phục vị Đông Bắc tuyệt mệnh

Quý Mùi mộc mệnh Ly Trạch

Chính Đông sinh khí Đông Nam phúc đức
Chính Nam phục vị Tây Nam lục sát
Chính Tây ngũ quỷ Tây Bắc tuyệt mệnh
Chính Bắc diên niên Đông Bắc họa hại

Giáp Thân thủy mệnh Cấn Trạch

Chính Đông lục sát Đông Nam tuyệt mệnh
Chính Nam họa hại Tây Nam sinh khí
Chính Tây diên niên Tây Bắc phúc đức
Chính Bắc ngũ quỷ Đông Bắc phục vị

Ất Dậu thủy mệnh Đoài Trạch

Chính Đông tuyệt mệnh Đông Nam lục sát
Chính Nam ngũ quỷ Tây Nam phúc đức
Chính Tây phục vị Tây Bắc sinh khí
Chính Bắc họa hại Đông Bắc diên niên

Bính Tuất thổ mệnh Càn Trạch

Chính Đông ngũ quỷ Đông Nam họa hại
Chính Nam tuyệt mệnh Tây Nam diên niên
Chính Tây sinh khí Tây Bắc phục vị
Chính Bắc lục sát Đông Bắc phục vị

Đinh Hợi thổ mệnh Khôn Trạch

Chính Đông họa hại Đông Nam ngũ quỷ
Chính Nam lục sát Tây Nam phục vị
Chính Tây phúc đức Tây Bắc diên niên
Chính Bắc tuyệt mệnh Đông Bắc sinh khí

Mậu Tý hỏa mệnh Tốn Trạch

Chính Đông diên niên Đông Nam phục vị
Chính Nam phúc đức Tây Nam ngũ quỷ
Chính Tây lục sát Tây Bắc sinh khí
Chính Bắc họa hại Đông Bắc tuyệt mệnh

Kỷ Sửu hỏa mệnh Chấn Trạch

Chính Đông phục vị Đông Nam sinh khí
Chính Nam diên niên ây Nam họa hại
Chính Tây tuyệt mệnh Tây Bắc ngũ quỷ
Chính Bắc phúc đức Đông Bắc lục sát

Canh Dần mộc mệnh Khôn Trạch

Chính Đông họa hại Đông Nam ngũ quỷ
Chính Nam lục sát Tây Nam phục vị
Chính Tây phúc đức Tây Bắc diên niên
Chính Bắc tuyệt mệnh Đông Bắc sinh khí

Tân Mão mộc mệnh Khảm Trạch

Chính Đông phúc đức Đông Nam sinh khí
Chính Nam diên niên Tây Nam tuyệt mệnh
Chính Tây họa hại Tây Bắc lục sát
Chính Bắc phục vị Đông Bắc ngũ quỷ

Nhâm Thìn thủy mệnh Ly Trạch

Chính Đông sinh khí Đông Nam phúc đức
Chính Nam phục vị Tây Nam lục sát
Chính Tây ngũ quỷ Tây Bắc tuyệt mệnh
Chính Bắc họa hại Đông Bắc diên niên

Quý Tỵ thủy mệnh Cấn Trạch

Chính Đông lục sát Đông Nam tuyệt mệnh
Chính Nam họa hại Tây Nam sinh khí
Chính Tây diên niên Tây Bắc phục vị
Chính Bắc ngũ quỷ Đông Bắc phục vị

Giáp Ngọ kim mệnh Đoài Trạch

Chính Đông tuyệt mệnh Đông Nam lục sát
Chính Nam ngũ quỷ Tây Nam phúc đức
Chính Tây phục vị Tây Bắc sinh khí
Chính Bắc họa hại Đông Bắc diên niên

Ất Mùi kim mệnh Càn Trạch

Chính Đông ngũ quỷ Đông Nam họa hại
Chính Nam tuyệt mệnh Tây Nam diên niên
Chính Tây sinh khí Tây Bắc phục vị
Chính Bắc phục vị Đông Bắc phúc đức

Bính Thân hỏa mệnh Khôn Trạch

Chính Đông họa hại Đông Nam ngũ quỷ
Chính Nam lục sát Tây Nam phục vị
Chính Tây phúc đức Tây Bắc diên niên
Chính Bắc tuyệt mệnh Đông Bắc sinh khí

Bính Dậu hỏa mệnh Tốn Trạch

Chính Đông diên niên Đông Nam phục vị
Chính Nam phúc đức Tây Nam họa hại
Chính Tây lục sát Tây Bắc ngũ quỷ
Chính Bắc tuyệt mệnh Đông Bắc sinh khí

Mậu Tuất mộc mệnh Chấn Trạch

Chính Đông phục vị Đông Nam diên niên
Chính Nam lục sát Tây Nam phục vị
Chính Tây phúc đức Tây Bắc diên niên
Chính Bắc tuyệt mệnh Đông Bắc sinh khí

Kỉ Hợi mộc mệnh Khôn Trạch

Chính Đông tổn hại Đông Nam ngũ quỷ
Chính Nam lục sát Tây Nam phục vị
Chính Tây phúc đức Tây Bắc diên niên
Chính Bắc tuyệt mệnh Đông Bắc sinh khí

Canh Tý thổ mệnh Khảm Trạch

Chính Đông phúc đức Đông Nam sinh khí
Chính Nam diên niên Tây Nam tuyệt mệnh
Chính Tây tổn hại Tây Bắc lục sát
Chính Bắc phục vị Đông Bắc ngũ quỷ

Thân Sửu thổ mệnh Ly Trạch

Chính Đông sinh khí Đông Nam phúc đức
Chính Nam phục vị Tây Nam lục sát
Chính Tây ngũ quỷ Tây Bắc tuyệt mệnh
Chính Bắc diên niên Đông Bắc tổn hại

Nhâm Dần kim mệnh Cấn Trạch

Chính Đông lục sát Đông Nam tuyệt mệnh
Chính Nam tổn hại Tây Nam sinh khí
Chính Tây diên niên Tây Bắc phúc đức
Chính Bắc ngũ quỷ Đông Bắc phục vị

Quý mão kim mệnh Đoài Trạch

Chính Đông tuyệt mệnh Đông Nam lục sát
Chính Nam ngũ quỷ Tây Nam phúc đức
Chính Tây phục vị Tây Bắc sinh khí
Chính Bắc tổn hại Đông Bắc diên niên

Giáp Thìn hỏa mệnh Càn Trạch

Chính Đông ngũ quỷ Đông Nam tổn hại
Chính Nam tuyệt mệnh Tây Nam diên niên
Chính Tây sinh khí Tây Bắc phục vị
Chính Bắc lục sát Đông Bắc phúc đức

Ất Tỵ hỏa mệnh Khôn Trạch

Chính Đông tổn hại Đông Nam ngũ quỷ
Chính Nam lục sát Tây Nam phúc đức
Chính Tây diên niên Tây Bắc phục vị
Chính Bắc sinh khí Đông Bắc tuyệt mệnh

Bính Ngọ thủy mệnh Trấn Trạch

Chính Đông phục vị Đông Nam diên niên
Chính Nam lục sát Tây Nam tổn hại
Chính Tây sinh khí Tây Bắc ngũ quỷ
Chính Bắc phúc đức Đông Bắc tuyệt mệnh

Đinh Mùi thủy mệnh Đoài Trạch

Chính Đông diên niên Đông Nam phục vị
Chính Nam phúc đức Tây Nam ngũ quỷ
Chính Tây lục sát Tây Bắc tổn hại
Chính Bắc sinh khí Đông Bắc tuyệt mệnh

Mậu Thân thổ mệnh Khôn Trạch

Chính Đông tổn hại Đông Nam ngũ quỷ
Chính Nam lục sát Tây Nam phục vị
Chính Tây phúc đức Tây Bắc diên niên
Chính Bắc tuyệt mệnh Đông Bắc sinh khí

Kỷ Dậu thổ mệnh Khảm Trạch

Chính Đông phúc đức Đông Nam sinh khí
Chính Nam diên niên Tây Nam tuyệt mệnh
Chính Tây tổn hại Tây Bắc lục sát
Chính Bắc phục vị Đông Bắc ngũ quỷ

Canh Tuất kim mệnh Ly Trạch

Chính Đông sinh khí Đông Nam phúc đức
Chính Nam phục vị Tây Nam lục sát
Chính Tây ngũ quỷ Tây Bắc tuyệt mệnh
Chính Bắc diên niên Đông Bắc tổn hại

Tân Hợi kim mệnh Chấn Trạch

Chính Đông lục sát Đông Nam tuyệt mệnh
Chính Nam tổn hại Tây Nam sinh khí
Chính Tây diên niên Tây Bắc phúc đức
Chính Bắc ngũ quỷ Đông Bắc phục vị

Nhâm Tý mộc mệnh Đoài Trạch

Chính Đông tuyệt mệnh Đông Nam lục sát
Chính Nam ngũ quỷ Tây Nam phúc đức
Chính Tây phục vị Tây Bắc diên niên
Chính Bắc tổn hại Đông Bắc sinh khí

Quý Sửu mộc mệnh Càn Trạch

Chính Đông ngũ quỷ Đông Nam tổn hại
Chính Nam tuyệt mệnh Tây Nam diên niên
Chính Tây sinh khí Tây Bắc phục vị
Chính Bắc lục sát Đông Bắc tuyệt mệnh

Giáp Dần thủy mệnh Khôn Trạch

Chính Đông tổn hại Đông Nam ngũ quỷ
Chính Nam lục sát Tây Nam phục vị
Chính Tây diên niên Tây Bắc phúc đức
Chính Bắc sinh khí Đông Bắc tuyệt mệnh

Ất Mão thủy mệnh Tốn Trạch

Chính Đông diên niên Đông Nam phục vị
Chính Nam phúc đức Tây Nam ngũ quỷ
Chính Tây lục sát Tây Bắc tổn hại
Chính Bắc sinh khí Đông Bắc tuyệt mệnh

Bính Thìn thổ mệnh Chấn Trạch

Chính Đông phục vị Đông Nam diên niên
Chính Nam sinh khí Tây Nam tổn hại
Chính Tây tuyệt mệnh Tây Bắc ngũ quỷ
Chính Bắc phúc đức Đông Bắc lục sát

Đinh Tỵ thổ mệnh Khôn Trạch

Chính Đông tổn hại Đông Nam ngũ quỷ
Chính Nam lục sát Tây Nam phục vị
Chính Tây phúc đức Tây Bắc diên niên
Chính Bắc tuyệt mệnh Đông Bắc sinh khí

Mậu Ngọ hỏa mệnh Khảm Trạch

Chính Đông phúc đức Đông Nam sinh khí
Chính Nam diên niên Tây Nam tuyệt mệnh
Chính Tây tổn hại Tây Bắc lục sát
Chính Bắc phục vị Đông Bắc ngũ quỷ

Kỷ Hợi hỏa mệnh Ly Trạch

Chính Đông sinh khí Đông Nam phúc đức
Chính Nam phục vị Tây Nam lục sát
Chính Tây ngũ quỷ Tây Bắc tuyệt mệnh
Chính Bắc diên niên Đông Bắc tổn hại

Canh Thân mộc mệnh Cán Trạch

Chính Đông lục sát Đông Nam tuyệt mệnh
Chính Nam tổn hại Tây Nam sinh khí
Chính Tây diên niên Tây Bắc phúc đức
Chính Bắc ngũ quỷ Đông Bắc phục vị

Tân Dậu mộc mệnh Đoài Trạch

Chính Đông tuyệt mệnh Đông Nam lục sát
Chính Nam ngũ quỷ Tây Nam phúc đức
Chính Tây phục vị Tây Bắc sinh khí
Chính Bắc tổn hại Đông Bắc diên niên

Nhâm Tuất kỉ mệnh Càn Trạch

Chính Đông ngũ quỷ Đông Nam tổn hại
Chính Nam tuyệt mệnh Tây Nam diên niên
Chính Tây sinh khí Tây Bắc phục vị
Chính Bắc lục sát Đông Bắc phúc đức

Quý Hợi thủy mệnh Khôn Trạch

Chính Đông tổn hại Đông Nam ngũ quỷ
Chính Nam lục sát Tây Nam phục vị
Chính Tây phúc đức Tây Bắc diên niên
Chính Bắc tuyệt mệnh Đông Bắc sinh khí

Ghi chú thêm:
- Tổn hại: Hay gặp tai họa
- Lục sát: Không nuôi được gia súc
- Diên niên: Sống lâu
- Sinh khí: Khỏe mạnh
Còn: phúc đức – tuyệt mệnh – ngũ quỷ - phục vị ( đã giải thích ở phần trên).

LazyCat
01-08-09, 19:35
ML đọc được cái này thấy hay hay:D Đây là một phương pháp hay về chọn năm sinh con, xin đưa lên để mọi người tham khảo. Nếu ai biết phương pháp này có thể bổ xung thêm để phương pháp hoàn thiện thì tốt quá .
***Phương pháp như sau:

Có 8 cung như sau:

----------------------->
________________________________________________
| | | | | | | | |
| An | Cư | Lợi | Hại | Sát | Phú | Bại | Suy |
|_____|_____|_____|_____|______|______|______|____ __|

Cung tốt: An, Cư, Lợi, Phú
Cung xấu: Hại, Sát, Bại, Suy
(matleeeee không hiểu rõ hết ý nghĩa từng cung, ai biết bổ xung giùm, thanks! )

Năm tuổi của người mẹ được an vào cung An. Sau đó tính tiếp theo chiều tiến (từ trái->phải, nếu hết cung thì quay lại bắt đầu từ cung An và tiếp tục trái->phải), cho tới năm tuổi sinh của con thì dừng lại. Nếu một người rơi vào cung tốt đã là có một yếu tố tốt rồi (yếu tố ưu tiên).

Ví dụ một trường hợp chị A tuổi Mùi:
Chị A tuổi Mùi an vào cung An, thì tiếp theo tuổi Thân là cung Cư, Dậu là cung Lợi, Tuất là cung Hại ...... Dần là cung Suy, Mão là cung An, ......, Ngọ là Hại

Trường hợp tốt nhất sẽ là Bố mẹ rơi cung tốt, sau đó con cái cũng rơi cung tốt thì gia đình sẽ ổn. Nếu bố, mẹ cung tốt, con cung xấu hoặc bố, mẹ cung xấu, con cung tốt thì có xu hướng ảnh hưởng xẫu trong gia đình đó ..v..v.. cái này khá hợp lý nếu con cái mà không ngoan tất bố mẹ buồn, bố mẹ không tốt con cái cũng không có điều kiện tốt để phát triển.

Nếu người bà (mẹ của chị A) sinh năm Hợi, bắt đầu người bà cung An ta tính được chị A sẽ rơi vào là cung An (tốt), chị A bây h cố gắng sinh trùng cung tốt thì sẽ tốt cho gia đình chị A (cần phải kể thêm yếu tố anh chồng chị có vào cung tốt không nữa, tốt cả thì tuyệt quá ). Chính vì đó chị A nên sinh con vào các năm Mùi, Thân, Dậu, Tí, Mão, Thìn, Tỵ.

Một kinh nghiệm đã được đúc kết và nhiều người kiểm chứng là độ chính xác cao. Mọi người thử phương pháp này với nhiều trường hợp và đưa kết quả của mình lên nhé, làm cái survey để biết thêm độ chính xác của PP này . Xin cảm ơn!

Sóng
02-08-09, 12:11
Rất thú vị, nhưng ko có căn duyên nên không sao hiểu được

nuhonlanh
02-08-09, 12:28
Bác giỏi thế x..iem luôn cho 3c mỗi người một quẻ chứ thế nào xem chả hỉu gì sất . Hic:P

LazyCat
02-08-09, 13:23
Rất thú vị, nhưng ko có căn duyên nên không sao hiểu được

2prince chưa đủ mệt à? iem không cần hiểu đâu:P

LazyCat
02-08-09, 13:45
(%)(%)(%)Có Ma hay không có Ma ? Ma là gì ? Ma ở đâu ? Ma có làm hại được ta hay không ? Phải trừ Ma như thế nào ?... Đó là những câu hỏi có thể nêu lên cho ta, vì trong số chúng ta đây, có thể có người chưa hề « gặp Ma » bao giờ, nên tò mò cũng muốn biết xem Ma ra thế nào, hoặc có người đã từng « thấy Ma » nên vẫn còn bị Ma ám ảnh, muốn biết xem cái thấy của mình, hay là cái con Ma đó có thật hay không.
Vậy ta hãy xem quan điểm của Phật giáo về Ma như thế nào. Tôi xin trình bày bài viết ngắn này thành hai phần. Một phần nặng về định nghĩa và lý thuyết dựa theo Kinh điển, một phần « bàn rộng » và « tán rộng » những gì đã ghi trong Kinh sách. Dù sao, đây cũng là một bài viết ngắn, dưới hình thức một bài báo, không có chủ đích giải quyết hết vấn đề và thật sự ra cũng khó rứt bỏ hay đuổi bỏ con Ma ra khỏi đầu chúng ta lắm.

1. Phần thứ nhất : Định nghĩa về Ma

Ma là gì ? Chữ Ma do chữ Phạn Mâra mà ra. Tiếng Tây tạng là bDud, tiếng Nhật là Hajun, tiếng Hán là Mo, nhưng người Trung hoa thường âm từ tiếng Phạn và gọi là Ma-la, vần r không có trong tiếng Trung hoa nên người Trung hoa thường gọi là Ma-la thay vì là Ma-ra. Kể dài dòng ra như thế để thấy rằng không phải chỉ có người Việt Nam ta mới « thấy » Ma.

Kinh sách định nghĩa chữ Ma (Mâra) là « Quỷ sứ cám dỗ », một thứ « Quỷ tinh ranh » tượng trưng cho những xu hướng tâm thần bấn loạn và lầm lẫn, cản trở con đường tu tập của một hành giả.

Trong Phổ diệu Kinh (Latitavistara), bộ Kinh kể lại cuộc đời của Đức Phật, cho biết Ma đã từng dùng mọi xảo thuật ma quái để quấy nhiễu và cản trở không cho Vị Phật tương lai là Thích Ca Mâu Ni đạt được Giác ngộ. Trong đêm trước khi Ngài thành Phật, Ma dẫn ba con ma nữ đến quyến rũ Ngài, lại đưa ma quân đến để ném đá như mưa vào Đức Phật. Ma đòi Phật phải nhường ngai lại cho hắn, vì hắn nhất định bảo rằng không có gì chứng nhận Phật đã đạt được Giác ngộ. Phật liền dùng tay phải chạm xuống mặt đất, mặt đất liền bị chấn động và rung chuyển ầm ầm, chứng minh cho sự Giác ngộ đích thực của Ngài. Ma liền biến mất như bị phù phép vậy.

Như vừa kể trên đây, ta có ma nữ, ma quân…vì thế ta cũng có Ma vương. Ma vương cũng là cách dịch khác của chữ Mâra. Ma vương là Vua các loài Thiên ma, ngụ ở cảnh trời gọi là Tha-hoá Tự-tại thiên (Paranirmitavasavartin), tức là cảnh trời thứ sáu trong cõi Dục giới, tức là cảnh giới thấp nhất trong Tam giới. Ma vương có phép thần thông, chuyên dùng ma thuật để phá rối, ngăn cản sự tu tập của những vị Bồ-tát. Ma vương còn có tên là Ma vương Ba-tuần, tức là tên của Tha-hoá Tự-tại thiên vương.

Vậy theo Kinh sách, có bao nhiêu thứ Ma tất cả ? Thật ra Ma nhiều lắm, nhưng tựu trung được phân loại ra làm bốn thứ Ma. Cách phân loại lại khác biệt nhau giữa Thừa Kinh điển (Sûtrayâna) và Kim cương thừa (Vajrayâna). Vì thế cộng lại có đến tám thứ Ma (Bát ma).

Theo Thừa Kinh điển (Sûtrayâna) bốn loại Ma (Tứ ma) là :

1. Ma của cấu hợp (Skandhamâra) : đó là thứ ma quái làm cơ sở cho khổ đau và cái chết mà ta phải gánh chịu trong cõi luân hồi. Con ma đó gọi là « con ma của cái chết ». Kinh sách tiếng Hán gọi là Ấm ma, Uẩn ma, hay Ngũ chúng ma.

2. Ma của dục vọng (Klésamâra) : bao gồm những dục vọng, ham muốn, thèm khát, đẩy ta vào những hành vi tiêu cực, tạo ra nghiệp xấu, thu ngắn kiếp nhân sinh, đưa ta vào vòng khổ đau của cõi luân hồi. Đó là « con ma gây ra cái chết », kinh sách gốc Hán gọi là Phiền não ma.

3. Ma của thần chết (Mrtyumâra) : đó là sự hủy hoại, cứu cánh tất nhiên của sự sinh, hậu quả của bản chất cấu hợp của mọi hiện tượng, tức là hiện tượng Vô thường. Con ma này có tên là « con ma vô thường », kinh sách tiếng Hán gọi là Tử ma.

4. Ma của những con trời (Devaputramâra) : bao gồm những thứ ma làm cho ta đãng trí, phân tâm, xúi dục ta bám níu vào ảo giác của những vật thể bên ngoài, cản trở sự tu học. Đó là « con ma bấn loạn », kinh sách tiếng Hán gọi là Tha-hoá Tự-tại Thiên tử ma, gọi tắt là Thiên ma, tức thần thánh tay sai của Thiên-hóa Tự tại vương.

Theo Kim cương thừa (Vajrayâna) bốn thứ Ma lại được định nghĩa như sau :

1. Ma xiềng xích (tiếng Tây tạng : thogs-bcas-kyi bdud) : con Ma này rất hung tợn và lộ liễu, gây ra phiền não, binh tật và chướng ngại bên ngoài. Đây là con Ma của sự bám níu và ghét bỏ đối với những vật thể và hiện tượng chung quanh. Kinh sách tiếng Hán gọi là Phiền não ma.

2. Ma thả lỏng (tiếng Tây tạng : thogs-med-kyi bdud) : đó là ba thứ nọc độc chính và năm thứ nọc độc phụ, tức là những dục vọng chính yếu và thứ yếu, những tư tưởng hay tư duy bấn loạn chưa được khắc phục, xâm chiếm tâm thức ta và gây ra khổ đau. Kinh sách gốc tiếng Hán gọi là Tâm ma.

3. Ma khánh hỷ (tiếng Tây tạng : dga’-brod-kyi bdud) : đó là con ma đội lốt hân hoan, vui thích, con ma của sự tự mãn, tự đại, thỏa mản với chính mình, xem mình là đặc biệt hơn cả mọi người, bám níu vào những « kết quả » và « kinh nghiệm » thiền định của mình, cho đấy là đúng và trở nên hãnh diện. Kinh gốc tiếng Hán gọi là Thiện căn ma.

4. Ma kiêu căng (tiếng Tây tạng : snyems-byed-kyi bdud) : đó là ma ngạo mạn, tự mãn, tự kiêu. Đấy là bản chất căn bản của con ma mang tên là cái « tôi », cái « ngã ». Kinh gốc tiếng Hán gọi là Tam muội ma.

Có sách còn phân chia ra làm mười thứ Ma (Thập ma), như vậy ngoài tám thứ ma đã kể trên còn có :

Thiện trí thức ma : tức là những kẻ thông hiểu được đạo lý, nhưng tham tiếc đạo lý ấy mà giữ nguyên cho mình, chẳng chỉ dạy cho kẻ khác.

Bồ-đề Pháp-trí ma : là những kẻ tuy đã phát lộ được trí tuệ, nhưng vẫn còn chấp trước làm che lấp mất chính đạo.

Đã nói đến danh từ và định nghĩa thì cũng mạn phép người đọc kể ra cho hết :

Ma cảnh : khung cảnh do ma quái tạo ra để phỉnh gạt và ngăn trở người tu hành.

Ma chướng : những chướng ngại, ngăn chận việc tu hành và sự thăng tiến của trí tuệ.

Ma duyên : còn gọi là ác duyên, tức là những xui khiến đưa đến nghịch cảnh, bất lợi hay độc hại.

Ma đàn : là sự bố thí của ma, không phải là của người. Đó là sự bố thí của những kẻ mang lòng tà, lòng tham, cầu danh, cầu lợi mà bố thí, sợ oai lực của ma quỷ mà bố thí, muốn tránh tại nạn mà bố thí. Chữ này nghịch nghĩa với chữ Phật đàn, tức là bố thí mà không biết là đã bố thí, không biết bố thí cái gì và bố thí cho ai, bố thí chỉ vì lòng từ bi vô biên mà thôi. Bố thí như thế còn gọi là Bố thí Ba-la-mật.

Ma đạo : đường đi của ma, chốn lui tới của ma, còn gọi là ma giới, tức cảnh giới của ma.

Ma lực : sức mạnh tiêu cực, kích động những hành vị xấu hay hung ác.

Ma nghiệp : nghiệp ác.

Ma ngoại : là những kẻ phỉ báng, chê bai Đạo pháp.

Ma Phạm : (Mâra hay Brâma) tức là Ma vương ở cõi Phạm vương, gọi tắt là Ma Phạm. Chữ Ma vương đã được giải thích trên đây, đó là Thiên-hoá Tự tại vương, còn Ma Phạm hay Phạm vương hay Phạm thiên vương là Chúa tể của cõi Ta-bà này, quyền lực của Ma Phạm vượt lên đến chỗ cao nhất trong cõi Sắc giới, cai quản và điều hành cả thế giới này. Kinh điển còn gọi « Ngài » là Ngọc Hoàng Thượng đế.

Ma thiền : phép thiền định tà ma, sai lầm, liên hệ với ma quỷ, đi ngược với chánh đạo.

Ma thuật : nói chung là những hành vi mê tín, dị đoan, phản khoa học.

Ma sự : chữ này rắc rối lắm, đại cương là những sự việc, những hành vi sai lầm, ngăn cản sự tu học và con đường chánh Pháp. Kẻ thực thi ma sự, là những kẻ chạy theo lục trần : yêu sắc đẹp, thích tiếng êm tai, ưa thích mùi thơm, miếng ngon, thích đụng chạm và sờ mó những gì ưa thích, ước mong những cảnh huống thích nghi. Ma sự cũng là việc làm của những người tu hành phá giới, chạy theo danh lợi, sắc dục. Ma sự cũng có thể dùng để chỉ người ngồi thiền mà ngủ gục, bám vào những cảnh hiện ra khi thiền, cảm thấy bấn loạn, thấy cảnh dữ mà bỏ thiền. Người xuất gia mà thực thi ma sự tức là còn ham thích luận bàn thế sự, chiến tranh, tình yêu nam nữ, xu nịnh những hàng cư sĩ hay người lui tới chùa có của cải, cúng dường nhiều, hoặc vướng vào phép bói toán, đoán số mệnh, ếm ma, trừ quỷ…(%)(%)(%)

st

Sóng
02-08-09, 14:59
2prince chưa đủ mệt à? iem không cần hiểu đâu:P

em tham lắm anh à, vẫn muốn "thêm một lắm điều hay" :-"

LazyCat
03-08-09, 00:03
em tham lắm anh à, vẫn muốn "thêm một lắm điều hay" :-"

Nếu thế thì 2010-2011-2012 cố thêm Công Chúa nha :P

LazyCat
03-08-09, 00:16
em tham lắm anh à, vẫn muốn "thêm một lắm điều hay" :-"

Nếu thế thì 2010-2011-2012 cố thêm Công Chúa nha :P

Sóng
03-08-09, 21:09
Nếu thế thì 2010-2011-2012 cố thêm Công Chúa nha :P


:-| ihhihi em có kế hoạch rùi \:D/\:D/

LazyCat
25-08-09, 09:29
Lời nói thứ nhất: Của cải lớn nhất của đời người là sức khỏe

Câu nói này mặc dù ai cũng biết, nhưng thực sự lĩnh ngộ được không phải là chuyện dễ. Xin hãy thử xem người xưa, người nay, người trong nước, người nước ngoài, đã mấy người thoát khỏi vòng mê hoặc, dụ dỗ của danh của lợi... Những người ấy thường coi danh lợi, bổng lộc. tình yêu là cái theo đuổi cao nhất của cuộc đời, mà không biết rằng của cải lớn nhất của đời người chính là sức khỏe của mình. Có một câu chuyện cổ kể rằng. có một người ham mê của cải hơn mạng sống, anh ta lạc vào một núi vàng. lúc đầu sung sướng như điên vì lấy được nhiều vàng bạc châu báu, nhưng rồi bi lạc trong núi vàng, bỏ xác tại đó. Có thể nói rằng, sức khỏe là cái quý báu nhất, và cũng là của cải lớn nhất của đời người. Nếu ta không hiểu được điều này thì bất kể danh lợi gì, ham muốn gì đều trở nên vô nghĩa.

Lời nói thứ hai: Cái đáng thương nhất trong cuộc đời là lòng đố kỵ

Đố kỵ là điều thường gặp nhất trong cuộc sống. Lý Tư vì đố kỵ tài năng của đồng học Hòa Phi nên đã gièm pha với vua Tần, khiến Hòa Phi phải chết trong ngục. Bàng Quyên vì đố kỵ học thức của Tôn Tẫn hơn mình, nên đã dùng độc kế hãm hại bạn, khiến Tôn Tẫn trở thành người tàn phế. Nếu xem xét thì những lời nói hay của nhà Phật, chúng ta sẽ thấy Lý Tư và Bàng Quyên đều là những kẻ đáng thương. Bọn họ có thể để ý một dạo, nhưng cuối cùng vẫn không được chết yên bình. Đố kỵ là một bệnh tật, người có bệnh đố kỵ suốt đời không bao giờ được yên ổn. Bọn họ, hôm nay sợ người này vượt qua mình, ngày mai lại lo lắng vì người khác đi trước mình rồi, suốt ngày bọn họ sống trong cảnh tật bệnh đáng thương. Ngược lại, những người công thành danh toại chân chính trong lịch sử đều là những người coi đố kỵ là một điều sỉ nhục. Âu Dương Tu là lãnh tụ trên văn đàn thời Bắc Tống, năm đó sau khi ông biết và lựa chọn Tô Đông Pha, có người nói với ông rằng: "Tô Đông Pha là bậc kỳ tài, nếu ngài chọn Tô Đông Pha thì chỉ sợ 10 năm sau, người trong thiên hạ chỉ biết Tô Đông Pha chứ không biết ngài là ai nữa”. Nhưng Âu Dương Tu chỉ cười và vẫn đề vạt Tô Đông Pha. Người đời sau vì thế càng sùng kính Âu Dương Tu.

Lời nói thứ ba: Kẻ thù lớn nhất trong cuộc đời là chính mình

Câu nói này rất quan trọng. Trong cuộc đời chúng ta thường có một số kẻ thù, như bọn lưu manh, vô lại, kẻ tiểu nhân... Bọn cầm thú mặc quần áo người đó vô cùng tàn ác, nhưng nếu nhìn thấu, thì bọn chúng cũng chỉ là lớp cặn bã. Kẻ thù lớn nhất của con người chính là mình. Một người nếu chiến thắng được mình thì cái gì cũng công phá được, sẽ là người bách chiến bách thắng. Cái đáng sợ là tự mình mắc bệnh mà không biết: Có khi do dự không quyết, có lúc lại đánh giá mình quá cao; có khi tự cao tự đại, có lúc lại sùng bái người... chỉ có chiến thắng bản thân mới có thể mở ra được cục diện vững chắc.

Lời nói thứ tư: Hạnh phúc lớn nhất của đời người là biết buông tha

Trong xử thế, dám nắm lấy là dũng khí, dám buông ra là độ lượng. Phần lớn những người có kinh nghiệm xử thế đều xem thường những hoa tươi, tiếng vỗ tay... trên đường đời, nhưng người đã trải qua nhiều lần mưa gió lại càng tự tin hơn, vững vàng bản lĩnh. Nhưng nếu nhìn nhận một cách bình thường đối với những gập ghềnh, bùn lầy... trong cuộc sống, thì không phải là điều dễ làm. Có thể không hoảng hết, có thể thản nhiên chịu đựng những trở ngại lớn, những tai họa lớn, chính là vì có lòng độ lượng. Nhà Phật lấy lòng độ lượng dung nạp mọi việc trong thiên hạ làm nguồn vui, đã đến rồi thì hãy ở yên mà thích ứng với hoàn cảnh là một loại siêu thoát. Những loại siêu thoát đó đòi hỏi rèn luyện nhiều mới thành. Biết nắm lấy thực đáng quý, nhưng biết buông ra mới là đạo lý chân chính xử thế trong đời.
(st)

tranquang
25-08-09, 12:05
Hỏi LazyCat chút: Ngũ hành nạp âm và Ngũ hành bình thường khác nhau thế nào? Ví dụ như Hợi là thuộc Thủy nhưng rất nhiều tuổi Hợi theo Nạp âm lại có hành khác (ví dụ như Tân Hợi là Thoa xuyến Kim). Từ đó hỏi thêm việc vận dụng của hai "loại ngũ hành" này.
Mong sớm có câu trả lời...

tranquang
25-08-09, 12:06
Lời nói thứ nhất: Của cải lớn nhất của đời người là sức khỏe

Câu nói này mặc dù ai cũng biết, nhưng thực sự lĩnh ngộ được không phải là chuyện dễ. Xin hãy thử xem người xưa, người nay, người trong nước, người nước ngoài, đã mấy người thoát khỏi vòng mê hoặc, dụ dỗ của danh của lợi... Những người ấy thường coi danh lợi, bổng lộc. tình yêu là cái theo đuổi cao nhất của cuộc đời, mà không biết rằng của cải lớn nhất của đời người chính là sức khỏe của mình. Có một câu chuyện cổ kể rằng. có một người ham mê của cải hơn mạng sống, anh ta lạc vào một núi vàng. lúc đầu sung sướng như điên vì lấy được nhiều vàng bạc châu báu, nhưng rồi bi lạc trong núi vàng, bỏ xác tại đó. Có thể nói rằng, sức khỏe là cái quý báu nhất, và cũng là của cải lớn nhất của đời người. Nếu ta không hiểu được điều này thì bất kể danh lợi gì, ham muốn gì đều trở nên vô nghĩa.

Lời nói thứ hai: Cái đáng thương nhất trong cuộc đời là lòng đố kỵ

Đố kỵ là điều thường gặp nhất trong cuộc sống. Lý Tư vì đố kỵ tài năng của đồng học Hòa Phi nên đã gièm pha với vua Tần, khiến Hòa Phi phải chết trong ngục. Bàng Quyên vì đố kỵ học thức của Tôn Tẫn hơn mình, nên đã dùng độc kế hãm hại bạn, khiến Tôn Tẫn trở thành người tàn phế. Nếu xem xét thì những lời nói hay của nhà Phật, chúng ta sẽ thấy Lý Tư và Bàng Quyên đều là những kẻ đáng thương. Bọn họ có thể để ý một dạo, nhưng cuối cùng vẫn không được chết yên bình. Đố kỵ là một bệnh tật, người có bệnh đố kỵ suốt đời không bao giờ được yên ổn. Bọn họ, hôm nay sợ người này vượt qua mình, ngày mai lại lo lắng vì người khác đi trước mình rồi, suốt ngày bọn họ sống trong cảnh tật bệnh đáng thương. Ngược lại, những người công thành danh toại chân chính trong lịch sử đều là những người coi đố kỵ là một điều sỉ nhục. Âu Dương Tu là lãnh tụ trên văn đàn thời Bắc Tống, năm đó sau khi ông biết và lựa chọn Tô Đông Pha, có người nói với ông rằng: "Tô Đông Pha là bậc kỳ tài, nếu ngài chọn Tô Đông Pha thì chỉ sợ 10 năm sau, người trong thiên hạ chỉ biết Tô Đông Pha chứ không biết ngài là ai nữa”. Nhưng Âu Dương Tu chỉ cười và vẫn đề vạt Tô Đông Pha. Người đời sau vì thế càng sùng kính Âu Dương Tu.

Lời nói thứ ba: Kẻ thù lớn nhất trong cuộc đời là chính mình

Câu nói này rất quan trọng. Trong cuộc đời chúng ta thường có một số kẻ thù, như bọn lưu manh, vô lại, kẻ tiểu nhân... Bọn cầm thú mặc quần áo người đó vô cùng tàn ác, nhưng nếu nhìn thấu, thì bọn chúng cũng chỉ là lớp cặn bã. Kẻ thù lớn nhất của con người chính là mình. Một người nếu chiến thắng được mình thì cái gì cũng công phá được, sẽ là người bách chiến bách thắng. Cái đáng sợ là tự mình mắc bệnh mà không biết: Có khi do dự không quyết, có lúc lại đánh giá mình quá cao; có khi tự cao tự đại, có lúc lại sùng bái người... chỉ có chiến thắng bản thân mới có thể mở ra được cục diện vững chắc.

Lời nói thứ tư: Hạnh phúc lớn nhất của đời người là biết buông tha

Trong xử thế, dám nắm lấy là dũng khí, dám buông ra là độ lượng. Phần lớn những người có kinh nghiệm xử thế đều xem thường những hoa tươi, tiếng vỗ tay... trên đường đời, nhưng người đã trải qua nhiều lần mưa gió lại càng tự tin hơn, vững vàng bản lĩnh. Nhưng nếu nhìn nhận một cách bình thường đối với những gập ghềnh, bùn lầy... trong cuộc sống, thì không phải là điều dễ làm. Có thể không hoảng hết, có thể thản nhiên chịu đựng những trở ngại lớn, những tai họa lớn, chính là vì có lòng độ lượng. Nhà Phật lấy lòng độ lượng dung nạp mọi việc trong thiên hạ làm nguồn vui, đã đến rồi thì hãy ở yên mà thích ứng với hoàn cảnh là một loại siêu thoát. Những loại siêu thoát đó đòi hỏi rèn luyện nhiều mới thành. Biết nắm lấy thực đáng quý, nhưng biết buông ra mới là đạo lý chân chính xử thế trong đời.
(st)

Cái này trong kinh tạng nào nhỉ? Cứ như là Nho giáo nói vậy, Thiền thì đâu có nói gì...

LazyCat
25-08-09, 13:55
Tuổi Giáp Tí nếu tách rời can chi ra thì Giáp là Dương Mộc và Tí là Dương Thủy. Tuổi Ất Sữu tách rời can chi ra thì Ất là Âm Mộc còn Sữu thuộc Âm Thổ. Gom hai tuổi Giáp Tí và Ất Sữu nạp Âm thành Hải Trung Kim. Vậy Hải Trung Kim là cái tên nạp âm cho tuổi Giáp Tí, Ất Sửu.

Một vòng từ Giáp Tí đến Quí Hợi có 60 năm. Mỗi 10 năm lại có một chữ Giáp đứng đầu. Ví dụ...Giáp Tí, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần gọi bằng Lục Thập Hoa Giáp chia làm 30 tổ Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, mỗi 2 năm một tổ. Ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ qua nạp âm để định từng tính chất khác nhau giữa Kim với Kim , Mộc với Mộc. Như bảng dưới đây.

Giáp Tí, Ất Sữu ---------------- Hải Trung Kim
Bính Dần, Đinh Mão -------------Lư Trung Hỏa
Mậu Thìn, Kỷ Tỵ--------------- Đại Lâm Mộc
Canh Ngọ, Tân Mùi -------------Lộ Bàng Thổ
Nhâm Thân, Quí Dậu----------- Kiếm Phong Kim
Giáp Tuất, Ất Hợi-------------- Sơn Đầu Hỏa
Bính Tí, Đinh Sữu-------------- Giản Hạ Thủy
Mậu Dần, Kỷ Mão-------------- Thành Đầu Thổ
Canh Thìn, Tân Tỵ -------------Bạch Lạp Kim
Nhâm Ngọ, Quí Mùi -------------Dương Liễu Mộc
Giáp Thân, Ất Dậu--------------Tinh Tuyền Thủy
Bính Tuất, Đinh Hợi------------ Ốc Thượng Thổ
Mậu Tí, Kỷ Sữu---------------- Tích Lịch Hỏa
Canh Dần, Tân Mão------------ Tùng Bách Mộc
Nhâm Thìn, Quí Tỵ------------- Trường Lưu Thủy
Giáp Ngọ, Ất Mùi ---------------Sa Trung Kim
Bính Thân, Đinh Dậu------------ Sơn Hạ Hỏa
Mậu Tuất, Kỷ Hợi--------------- Bình Địa Mộc
Canh Tí, Tân Sữu---------------Bích Thượng Thổ
Nhâm Dần, Quí Mão-------------Kim Bá Kim
Giáp Thìn, Ất Tỵ---------------- Phú Đăng Hỏa
Bính Ngọ, Đinh Mùi--------------Thiên Hà Thủy
Mậu Thân, Kỷ Dậu-------------- Đại Dịch Thổ
Canh Tuất, Tân Hợi------------ Thoa Xuyến Kim
Nhâm Tí, Quí Sữu-------------- Tang Đố Mộc
Giáp Dần, Ất Mão-------------- Đại Khuê Thủy
Bính Thìn, Đinh Tỵ------------- Sa Trung Thổ
Mậu Ngọ, Kỷ Mùi --------------Thiên Thượng Hỏa
Canh Thân, Tân Dậu-----------Thạch Lựu Mộc
Nhâm Tuất, Quí Hợi------------ Đại Hải Thủy

Rồi trong mỗi tổ 2 năm lại phân ra khí thế mạnh yếu giữa 2 năm ấy. Sách xưa có viết như sau :

".....Cổ nhân lấy Giáp Tí phân tích nặng nhẹ để phối hợp nên 60 gọi bằng Hoa Giáp Tí. Chữ Hoa ở đây mang hàm ý nghĩa ảo diệu chỉ mượn ý của nó để làm biểu tượng, không chấp nệ với nghĩa đen của nó. Từ Tí đến Hợi 12 cung đều có Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Khởi đầu là Tí Nhất Dương đến Hợi Lục Âm. Ngũ hành nếu ở trên Trời là ngũ tinh, ở dưới đất là ngũ nhạc, ở đức độ là ngũ thường, ở thân thể con người là ngũ tạng, ở Mệnh là ngũ hành. Vì số mệnh cũng là ngũ hành cho nên những gì thuộc Giáp Tí đều ứng vào mệnh. Mệnh là những sự việc của một con người.

Như Tí Sữu âm dương ví như lúc còn nuôi nấng trong bào thai, vật mới phôi thai thân gốc ẩn tàng. Dần Mão âm dương bắt đầu nẩy nở, thành hình và lớn lên. Thìn Tỵ âm dương khí thịnh, vật thành đẹp đẽ ví như tuổi tráng niên tìm đất lập thân tiến thủ. Ngọ Mùi âm dương tất cả đã hiện như con người vào tuổi năm sáu mươi , giàu nghèo sang hèn đã thấy cả, sự hưng suy tỏ lộ Thân Dậu âm dương giai đoạn suy yếu, chuyển sang già nua. Đến Tuất Hợi âm dương đó là thời kỳ bế tắc, vật khí trở về gốc, để nghỉ ngơi rồi để đi về cát bụi......"

Trong quá trình trên, cuộc đời đa dạng phong phú được miêu tả bởi những ảnh hưởng của nạp âm kết hợp với các sao trong cung mệnh.(st)
(Còn tiếp)

LazyCat
25-08-09, 14:00
Khi luận một lá số Tử vi thì coi ảnh hưởng Ngũ hành nạp âm của năm sinh rồi phối hợp với mệnh cung mà luận đoán. Thí dụ mệnh cung có những sao hay cách cục nói lên con người hung bạo mà nạp âm cũng hung bạo thì tính hung bạo của người ấy tăng gấp bội. Nếu các sao ở mệnh cung hay cách cục là con người nhu hòa mà nạp âm cũng nhu hòa thì tính nhu hòa trở thành nhu nhược.

Mỗi hành có 6 tượng, như Kim gồm có : Hải trung kim, Kim bá kim, Bạch lạp kim, Sa trung kim, Kiếm phong kim, và Thoa xuyến kim bằng một tên gọi khác là nạp âm.

Hải Trung Kim

Sách xưa viết rằng :

Giáp Tí, Ất Sữu thì Tí thuộc Thủy, nơi hồ ao thì thủy vượng. Trong khi Kim cục thì Tử trong vòng tràng sinh nằm ở cung Tí và Mộ ở Sữu là chổ Thủy vượng. Kim vào thế " Tử Mộ " cho nên mới gọi bằng Hải Trung Kim ví như Kim trong lòng biển, khí thế bị bao tàng có danh mà vô hình, có tiếng mà không có thực, nằm sâu trong lòng biển như thai nhi nằm trong lòng mẹ.

Tính chất của Hải Trung Kim là :

a) Có thể biết được tâm tưởng mà không hiểu rõ được tâm cơ , lòng người như biển không dò , nếu cung Mệnh có những sao thủ đoạn điên đảo mà lại ở nạp âm Hải Trung Kim nữa thì quyền thuật kể vào bậc cự phách.

b) Khả năng tốt, nhưng thiếu sức xông xáo tranh cướp, phải nhờ người đề bạt mới thi triển được, nếu cung bản mệnh thấy nhiều sao do dự nhút nhát mà mệnh lại rơi vào nạp âm Hải Trung Kim thì càng do dự nhút nhát hơn. Số nữ Hải Trung Kim đối với tình yêu ít bộc lộ, gói kín trong lòng.

Trước nghịch cảnh và phấn đấu thì Giáp Tí mạnh hơn Ất Sữu. Ất Sữu dể có khuynh hướng nhu nhược hơn.

Kim Bá Kim

Nhâm Dần, Quí Mão thì Dần Mão là đất vượng của Mộc, Mộc vượng lên Kim suy. Theo Kim cục, vòng tràng sinh có Tuyệt đóng tại Dần và Thai ở Mão. Kim vô lực nên mới gọi là Kim Bá Kim. Mộc vượng Kim suy nên sức yếu, mỏng manh nhạt nhòa, chữ bá nghĩa là yếu đuối, không mạnh mẽ.

Sách xưa có viết : " Nhâm Dần, Quí Mão là chất Kim còn lại ở đất tuyệt cho nên khí chất nhu nhược, mỏng như tơ lụa." Kim Bá Kim chất Kim dùng để trang trí, trang sức. Nếu được tay người khéo giỏi chạm khắc thì mới hay đẹp.

Người có số nạp kim là Kim Bá Kim cần được mài dũa học hành mới mong thành tựu , phải tìm được thầy mới nên cơ đồ. Bởi vậy Kim Bá Kim cần Xương Khúc, Hóa Khoa ở Mệnh mới hay.

Nhâm Dần thì Dần mộc bị kim khắc nên ở thế yếu, tinh thần tuy vượng nhưng là thứ vượng thịnh của dây cung quá căng bởi vậy khi ứng phó với hung vận không lì đòn bằng Quí Mão. Quí Mão cũng như Nhâm Dần, Mộc bị Kim khắc , nhưng âm mộc sức khắc chế chỉ có giới hạn trong khi chủ kiến tự mình lại mạnh, nên chống với hung vận đắc lực hơn.

Bạch Lạp Kim

Sách xưa có viết: " Chất Kim của Canh Thìn và Tân Tỵ, theo vòng Tràng sinh của Kim cục thì Dưỡng ở Thìn, Tràng sinh ở Tỵ, hình chất mới thành, chưa cứng cáp nên gọi bằng Bạch Lạp Kim ". Bạch Lạp Kim ví như chất ngọc chưa mài dũa. Tinh thần sảng trực tinh khiết mà thiếu tâm cơ. Người mang số Bạch Lạp Kim có hai con đường để lập thân :

a) Học hành chuyên môn, tập trung vào ngành ấy mà nên công.
a) Bương trải cuộc đời cho đầy kinh nghiệm như ngọc được mài dũa tinh luyện cuối cùng khi gặp vận để mà hành xử.

Dù mệnh có những sao tốt mà vận không bương trải hoặc không chuyên nghiệp thì sự nghiệp chẳng có bao nhiêu. Canh Thìn thì Thìn là Thổ chất khả dĩ sinh Kim, trong khi Tân Tỵ, Tỵ Hỏa làm tan chất Kim. Canh Thìn sảng trực tâm ý trung kiên hơn, còn Tân Tỵ mưu chước lươn lẹo hơn.

Sa Trung Kim

Giáp Ngọ, Ất Mùi thì Ngọ là chỗ hỏa vượng, hỏa vượng thì kim bại. Mùi là chổ của hỏa suy , hỏa tuy suy nhưng kim cũng đã cùn nhụt cho nên mới gọi bằng Sa Trung Kim, Kim không đủ cứng cáp để chém, để đẩy cho nên người Sa trung kim thường làm việc một cách đầu voi đuôi chuột. Mệnh cung mà có thêm sao Thiên đồng nữa thì càng vớ vẩn.

Sa Trung Kim cần liên tục theo đuổi mục đích nào đó, nói khác đi là cứ ngoan cố đeo đuổi thì mới đạt tới được. Giáp Ngọ thì Ngọ hỏa khắc kim, tước giảm khí thế trong khi Ất Mùi, Mùi thổ sinh kim. Vì thế Ất Mùi đương đầu với gian nan uyển chuyển hơn Giáp Ngọ.

Kiếm Phong Kim

Sách xưa có viết rằng : " Nhâm Thân, Quí Dậu thì Thân Dậu là chính vị của Kim cục nằm ở vị trí Lâm quan và Đế vượng cho nên Kim ở đây gìa cứng, cương mãnh ví như mũi nhọn của lưỡi gươm nên gọi bằng Kiếm Phong Kim là vậy. Do đó Nhâm Thân, Quí Dậu khí thế cực thịnh ".

Người Kiếm Phong Kim là người tự bộc lộ tài năng mình và có hành động tư tưởng sắc bén. Hồng quang tỏa chiếu khắp nơi, áng sáng rõ ràng như sương tuyết. Đây là mẫu người có ý chí cao lớn, tâm tính tàn khốc, cương nghị và tinh nhuệ.

Nếu mệnh có những sao tốt hội chiếu vào và lại thuộc nạp âm Kiếm Phong Kim thì càng tốt hơn, nhất là đối với những lá số thuộc về binh nghiệp hay chính trị. Ngược lại nếu mệnh cung nhiều sao xấu gây hung họa thì người có Kiếm Phong Kim càng hung bạo hơn, trên tính tình hoặc tư tưởng là người khó mà lay chuyển được.

Nhâm Thân, Quí Dậu cả hai vị trí đều thuộc Kim cho nên đều cương cường đối phó với hung vận bằng khả năng phấn đấu hay chịu đựng ngang nhau.

Thoa Xuyến Kim

Sách xưa viết rằng : " Canh Tuất, Tân Hợi có Kim cục đến vị trí Tuất là Suy qua Hợi thành Bệnh. Kim mà ở vị thế Suy Bệnh tất nhiên bị nhuyễn nhược nên mới gọi là Thoa Xuyến Kim. Thoa là cây trâm cho phụ nữ cài vào tóc. Xuyến là cái vòng đeo ở cổ tay của phái nữ. Vì Thoa Xuyến Kim là đồ dùng trang sức cho phụ nữ cho nên tính cương mãnh của Kim bị nhuyễn nhược. Bởi vậy cái Kim của Tuất Hợi trở nên ẩn tàng, hình thể vỡ vụn, cho nên được bỏ vào chiếc hộp ở chốn khuê phòng, mới gọi là Thoa Xuyến Kim là vậy ".

Người Thoa Xuyến Kim nếu số mà có Nhật Nguyệt, Xương Khúc, Thiên Lương, Hồng Đào, Hóa khoa thường đẹp đẽ bội phần bất cứ trai hay gái. Người Thoa Xuyến Kim nếu Mệnh có tính âm trầm thì càng âm trầm hơn, có tài thường dấu kín trong lòng. Người Thoa Xuyến Kim nếu Mệnh có tính khoe khoang nhiều thì lòng ham muốn cái hư vinh càng nặng.

Người Nam mà có mệnh Thoa Xuyến Kim thì cách hay nhất là nên sống cậy vào phái nữ như nương dựa vào vợ cùng sát cánh làm ăn thì dễ thành công hơn. Ngoài ra, người đàn ông có cách này thường thích giao thiệp với đàn bà con gái đeo nữ trang hoặc buôn bán nữ trang hoặc là con gái vẽ kiểu thời trang. (st)

(Còn tiếp)

LazyCat
25-08-09, 14:14
Cái này trong kinh tạng nào nhỉ? Cứ như là Nho giáo nói vậy, Thiền thì đâu có nói gì...

(%)Cái này Phật dạy khi giảng đạo. Nho giáo có phải là người đâu mà bít nói nhờ?
Khi Thiền thì đúng là không nói gì .Không bi ba bi bô linh tinh đâu bác ợ .Khi Thiền thì đến Tâm cũng phải tĩnh mờ. (iem nghĩ thế:p)
Iem không phải cao thủ cao nhân gì đâu.Ham vui đọc được thấy hay hay thì chia sẻ với người nào có chung sở thích .Khi nào rảnh lại vào đọc lại cho có hệ thống khỏi phải nhờ đến pác Gu lờ nữa .Pác ghé thăm có gì không hiểu thì iem st tiếp(%)

tranquang
25-08-09, 15:38
(%)Cái này Phật dạy khi giảng đạo. Nho giáo có phải là người đâu mà bít nói nhờ?
Khi Thiền thì đúng là không nói gì .Không bi ba bi bô linh tinh đâu bác ợ .Khi Thiền thì đến Tâm cũng phải tĩnh mờ. (iem nghĩ thế:p)
Iem không phải cao thủ cao nhân gì đâu.Ham vui đọc được thấy hay hay thì chia sẻ với người nào có chung sở thích .Khi nào rảnh lại vào đọc lại cho có hệ thống khỏi phải nhờ đến pác Gu lờ nữa .Pác ghé thăm có gì không hiểu thì iem st tiếp(%)

Hiểu Thiền chỉ là một phương pháp tập luyện thì có lẽ quá phiến diện nên không thể nói là "khi Thiền..." được.
Thiền là một hệ tư tưởng tổ hợp giữa Lão Trang và Phật giáo chính thống trong đó ngồi Thiền chỉ là 1 trong vố số các phương pháp tập luyện của (có thể gọi là) "tôn giáo" này. Việt Nam cũng có tên trong bản đồ Thiền thế giới với bốn trường phái thiền lừng danh. Tôn chỉ của Thiền giáo có trong 4 câu kệ mà cả Tuệ Trung Thượng sĩ lẫn Hải Lượng thiền sư đều nhắc đến.
"Phật dạy khi giảng đạo" là một thành ngữ người ta vin vào để "vu" cho Phật đủ thứ trên đời mà quên rằng Phật giảng đạo thì ít dùng lời chỉ trực tiếp mà luôn là các ẩn dụ theo các ước lệ đương thời (có thể thấy rõ nhất qua tích niêm hoa truyền đạo cho Ca-diếp tôn giả). Cách nói huỵch toẹt này chỉ có trong Pháp gia thời Chiến Quốc hoặc Nho gia từ thời Nam - Bắc triều trở đi. Khi rảnh tôi sẽ tìm bản gốc phục vụ quý vị.
HÌnh như câu hỏi về Ngũ hành chưa được trả lời...

LazyCat
25-08-09, 16:13
Hiểu Thiền chỉ là một phương pháp tập luyện thì có lẽ quá phiến diện nên không thể nói là "khi Thiền..." được.
Thiền là một hệ tư tưởng tổ hợp giữa Lão Trang và Phật giáo chính thống trong đó ngồi Thiền chỉ là 1 trong vố số các phương pháp tập luyện của (có thể gọi là) "tôn giáo" này. Việt Nam cũng có tên trong bản đồ Thiền thế giới với bốn trường phái thiền lừng danh. Tôn chỉ của Thiền giáo có trong 4 câu kệ mà cả Tuệ Trung Thượng sĩ lẫn Hải Lượng thiền sư đều nhắc đến.
"Phật dạy khi giảng đạo" là một thành ngữ người ta vin vào để "vu" cho Phật đủ thứ trên đời mà quên rằng Phật giảng đạo thì ít dùng lời chỉ trực tiếp mà luôn là các ẩn dụ theo các ước lệ đương thời (có thể thấy rõ nhất qua tích niêm hoa truyền đạo cho Ca-diếp tôn giả). Cách nói huỵch toẹt này chỉ có trong Pháp gia thời Chiến Quốc hoặc Nho gia từ thời Nam - Bắc triều trở đi. Khi rảnh tôi sẽ tìm bản gốc phục vụ quý vị.
HÌnh như câu hỏi về Ngũ hành chưa được trả lời...

Pác học rộng hiểu nhiều quá ta!
iem hiểu biết thêm từ pác nhưng không biết có đúng không đây??:-?
Em không nghiên cứu về TVTS.Đọc để biết thôi.Câu pác hỏi em chưa đọc hết,chưa cảm nhận được hết để dạy lại pác .Pác cố ở lại đừng đi xa vội chờ iem đọc, học xong đã nhá.

tranquang
25-08-09, 17:11
Pác học rộng hiểu nhiều quá ta!


Vậy mà chưa dám mở miệng truyền bá cho ai, chỉ dám vỗ vai vài người chưa biết để họ khỏi bị mấy thầy biết dăm ba chữ bịp bợm

Waterfall
25-08-09, 17:44
Pác học rộng hiểu nhiều quá ta!

LazyCat vội vàng thế! Mới có vài dòng như vậy mà đã đáng để LC ngợi khen rồi sao? :-"

thoanguyen
25-08-09, 17:51
Nghe chừng thấy sắp có chiến sự hay sao í chị WF ơi
Biển học mênh mông, mà Kinh Dịch, Khổng, Nho, Lão... đều càng khó hiểu! Em là vịt nghe sấm thôi ạ!

Waterfall
25-08-09, 17:55
To Thoanguyen: đúng là như vịt nghe sấm cả thôi em ạ. Thế nên chị mới trách LC vội vàng ngợi khen chứ :ar! :ar! :ar!

LazyCat
25-08-09, 19:34
To Thoanguyen: đúng là như vịt nghe sấm cả thôi em ạ. Thế nên chị mới trách LC vội vàng ngợi khen chứ :ar! :ar! :ar!

Hơ...hơ...người có 57 loại ngượiKhen có 57 đường khen;)) iem pót lên thế nhưng hiểu quái gì đâu.Văn kiểu cào cào ống tre của Trạng Quỳnh.Thế mờ có người cứ theo đuôi bới ra ngửi vui ghê cơ:))

LazyCat
25-08-09, 19:55
Vậy mà chưa dám mở miệng truyền bá cho ai, chỉ dám vỗ vai vài người chưa biết để họ khỏi bị mấy thầy biết dăm ba chữ bịp bợm

hí...hí...iem có bít gì cũng chẳng dám vỗ vai ai đâu ợ.Trịch thượng thế người ta lại cho đi thăm nha sỹ thì chít.;))

cathnga
25-08-09, 22:13
Oài !!!! Góc tâm linh sao lại thành ra bàn về cái chuyện khen chê thế nây???

Tớ thì thấy kinh dịch rì rì đó cũng rất hay, cũng rất logic, có điều nó lại đi ngược lại với 2 thuyết chính của đạo Phật, nên cũng phân vân lắm. Bác nầu cao thủ, cho ý kiến về tính thống nhứt của 2 hệ thống nầy được không ???

thoanguyen
26-08-09, 10:39
Hình như đạo Phật là về tâm linh, còn Kinh Dịch có hơi hướng của khoa học chị ạ! Em đọc tới trang 47 của Kinh Dịch mà mù tịt, khổ thế!
Đạo phật thì ngấm dần và cũng dễ hiểu chị à

tranquang
26-08-09, 10:48
Tớ thì thấy kinh dịch rì rì đó cũng rất hay, cũng rất logic, có điều nó lại đi ngược lại với 2 thuyết chính của đạo Phật, nên cũng phân vân lắm. Bác nầu cao thủ, cho ý kiến về tính thống nhứt của 2 hệ thống nầy được không ???

Bạn cho mình biết " hai thuyết chính của đạo Phật" là gì được không? Phật giáo là một tôn giáo chính thống khó thống kê luận thuyết lắm. Còn về thứ khác mình sẵn sàng trả lời ngay (có thể trích dẫn chính văn nếu được yêu cầu).
Còn bạn đọc Dịch đến đâu mà đã tóm tắt và kết luận (nội dung chính của nó, thứ mà Khổng tử ước sống thêm 70 năm nữa mới hiểu) nó đi ngược lại cái gì đo..

tranquang
26-08-09, 10:52
Hơ...hơ...người có 57 loại ngượiKhen có 57 đường khen;)) iem pót lên thế nhưng hiểu quái gì đâu.Văn kiểu cào cào ống tre của Trạng Quỳnh.Thế mờ có người cứ theo đuôi bới ra ngửi vui ghê cơ:))

Kể ra cũng buồn...
Tưởng rằng đây là một topic giàu tính học thuật, hóa ra... động từ "ngửi" dùng được với mấy thứ mọi người viết.
Thành thật phân ưu!
Ai muốn hỏi gì thêm về Đông phương cứ PM nhé, tạo thread nó hơi ô uế...

hoamai
26-08-09, 11:56
Kể ra cũng buồn...
Tưởng rằng đây là một topic giàu tính học thuật, hóa ra... động từ "ngửi" dùng được với mấy thứ mọi người viết.
Thành thật phân ưu!
Ai muốn hỏi gì thêm về Đông phương cứ PM nhé, tạo thread nó hơi ô uế...
Em cũng không hiểu lắm về nho giáo, kinh dịch nên không dám bàn luận nhưng có vào đọc bài nên em mạn phép đưa ra ý kiến như sau:
Chủ topic có ý tốt muốn đưa bài vào để mọi người tham khảo, nếu ai chưa biết thì đọc để tham khảo. Nếu ai đã biết rồi và còn có thể hiểu rõ hơn thì có thể post thêm bài vào để các thành viên khác có thể hiểu thêm và thiết nghĩ đó là cách để chúng ta cùng chia sẻ với nhau chứ không nên cứ đi mổ xẻ bài viết của nhau xem đúng hay sai
@ Bác tranquang: Cuộc sống đôi khi rất cần sự nhẹ nhàng

nguyentientuan
26-08-09, 12:20
http://www.tamlinh.net/xuphathuyenbi/
thế giới tâm linh

LazyCat
26-08-09, 12:31
Em cũng không hiểu lắm về nho giáo, kinh dịch nên không dám bàn luận nhưng có vào đọc bài nên em mạn phép đưa ra ý kiến như sau:
Chủ topic có ý tốt muốn đưa bài vào để mọi người tham khảo, nếu ai chưa biết thì đọc để tham khảo. Nếu ai đã biết rồi và còn có thể hiểu rõ hơn thì có thể post thêm bài vào để các thành viên khác có thể hiểu thêm và thiết nghĩ đó là cách để chúng ta cùng chia sẻ với nhau chứ không nên cứ đi mổ xẻ bài viết của nhau xem đúng hay sai
@ Bác tranquang: Cuộc sống đôi khi rất cần sự nhẹ nhàng

Bạn nữ này còn nhỏ tuổi mà đã ăn nói chín chắn,cũng được đấy nhể:-ss

LazyCat
26-08-09, 12:57
Kể ra cũng buồn...
Tưởng rằng đây là một topic giàu tính học thuật, hóa ra... động từ "ngửi" dùng được với mấy thứ mọi người viết.
Thành thật phân ưu!
Ai muốn hỏi gì thêm về Đông phương cứ PM nhé, tạo thread nó hơi ô uế...

hi...hi...Đông Phương Bất Bại trong film gì pác nhi?iem muốn xem lại mờ không nhớ nổi .Mong pác chỉ giáo thêm:p

thoanguyen
26-08-09, 13:11
Bó tay! Toàn người nhớn cả! $-):-??#:-s^:)^

monkey2004
26-08-09, 17:33
Mình nghĩ LC nên điềm tĩnh trước khi phát biểu như vậy ở chính topic tâm linh mà bạn tạo ra, để tâm linh thực sự là một nơi mọi người đều hướng tới tìm hiểu, tin tưởng,giải tỏa ,v.v.v để rồi con người ta tĩnh tâm thực xây dựng một cuộc sống nhân văn tốt đẹp hơn.
Mình rất thích xem hướng nhà của bạn đó LC ạ!
Chúc bạn sớm tìm thấy những điều ý nghĩa nơi tâm linh@};-
Dù biết tâm linh bạn đặt nơi Góc Giải trí, nhưng tác dụng của tâm linh thực tiễn hay Giải trí nơi đây đều nhằm mục đích giúp chúng ta bớt sầu muộn, căng thẳng hơn trong cuộc sống phải ko nào LC?

LazyCat
26-08-09, 18:33
Mình nghĩ LC nên điềm tĩnh trước khi phát biểu như vậy ở chính topic tâm linh mà bạn tạo ra, để tâm linh thực sự là một nơi mọi người đều hướng tới tìm hiểu, tin tưởng,giải tỏa ,v.v.v để rồi con người ta tĩnh tâm thực xây dựng một cuộc sống nhân văn tốt đẹp hơn.
Mình rất thích xem hướng nhà của bạn đó LC ạ!
Chúc bạn sớm tìm thấy những điều ý nghĩa nơi tâm linh@};-
Dù biết tâm linh bạn đặt nơi Góc Giải trí, nhưng tác dụng của tâm linh thực tiễn hay Giải trí nơi đây đều nhằm mục đích giúp chúng ta bớt sầu muộn, căng thẳng hơn trong cuộc sống phải ko nào LC?

Hi...hi...đúng là tâm chưa được tĩnh.Ruồi muỗi vo ve cũng làm ảnh hưởng:P
Giờ lại pót típ nào:-"

(%)Hành Thủy có sáu nạp âm: Giản hạ Thủy, Đại khê Thủy, Thiên hà Thủy, Tinh Tuyền Thủy, Đại hải Thủy.

Giản Hạ Thủy

Sách xưa chép rằng : " Thủy của Bính Tí, Đinh Sửu theo Thủy cục thì Đế vượng nằm ở Tí và Suy ở Sửu. Vượng rồi đến suy ngay tất nhiên không thể thành sông ngòi cho nên gọi bằng Giản hạ Thủy ".

Giản hạ Thủy là dòng nước lạch suối, không rõ nguồn gốc và cũng không có hướng nhất định để chảy đi, lòng lạch lòng suối lúc cạn lúc sâu.

Cổ nhân có câu : " Dục tấn dục thoái sơn khê thủy, Dục phản dục phúc tiểu nhân tâm ". Nghĩa là lúc tiến lúc lui như nước lạch, lúc phản lúc lật như lòng tiểu nhân.

Số có ai có Phục binh hay Phá quân, Địa kiếp hoặc Tử Phá hoặc Linh Hỏa hảm địa mà thêm nạp âm Giản hạ Thủy thì cái lòng phản phúc lật lọng càng ghê gớm. Nếu là người chủ mà có bộ sao như trên thì thủ hạ phải coi chừng và nếu kẻ làm tôi mà có sao như vậy thì kẻ đứng chủ chỉ việc chờ ngày bị phản.

Tâm chất thâm hiểm, tình ý nhỏ nhen nhưng rất thực tế và sắc bén. Trường hợp người có số bình thường nhu nhược mà thêm Giản hạ Thủy nạp âm thì hoàn toàn vô tích sự, lung tung và hoảng loạn trước công việc.

Giữa Bính Tí và Đinh Sửu thì Bính Tí nguy hiểm hơn Đinh Sửu thổ khắc Thủy khiến cho nhuệ khí bị tước giảm.

Đại Khê Thủy

Cổ thư viết: " Giáp Dần, Ất Mão thì Dần là ranh giới Đông Bắc, Mão là chính đi về một hướng, nên gọi bằng Đại khê Thủy ".

Đại khê là dòng suối lớn, thác nước tung hoành trong rừng núi khác hẳn Giản hạ thủy là lạch suối nhỏ, suối con. Bởi thế Đại khê Thủy khí lượng lớn, biến hóa đến mức gây sợ hãi, tuy không ngấm ngầm nhưng tâm cơ sâu rộng lan tràn ngập lụt.

Tuy nhiên lại không được xem như sông ngòi. Thác lũ khi gặp lòng sâu, hoặc hang hóc cũng chảy thành dòng, lấp đầy thành vũng. Bởi thế đôi khi bụng dạ hẹp hòi và có tư tâm.

Người Đại Khê Thủy nếu là một chiến lược gia tất có cái nhìn rộng rãi bao quát. Nếu mệnh kém mà nạp âm Đại khê Thủy lại trở nên con người mơ mộng, ước vọng, hoài bảo to tát mà thiếu khả năng hành động, thành vô dụng.

Giáp Dần, Ất Mão hai chi đều thuộc Mộc, đều vững mạnh trước hung vận nhưng Ất Mão ý nhị hơn, mềm dẽo hơn vì cả Ất lẫn Mão đều là âm Mộc.

Trường Lưu Thủy

Sách xưa chép: " Nhâm Thìn, Quí Tỵ, tại Thìn là Thủy khố mà Tỵ lại là Trường sinh của Kim, Kim sinh Thủy vượng. Đã vượng lại còn chứa đựng vào kho nước không bao giờ hết nên gọi bằng Trường Lưu Thủy ".

Trường mang nghĩa vĩnh cữu, Lưu mang nghĩa chuyển động không ngừng, cuồn cuộn vô cùng, thao thao bất tuyệt. Tham vọng to tát nhưng tư tâm không nhiều. Nếu như số là con người giỏi giang có thể giao công việc mà không sợ phản bội.

Trường Lưu Thủy có một khuyết điểm: chỉ chú trọng đại cuộc mà quên mất tiểu tiết, đôi khi do sơ sót mà hỏng việc. Mệnh xấu nạp âm Trường Lưu Thủy là người không có sự nghiệp nhưng biết lo xa cũng ấm thân.

Nhâm Thìn Quí Tỵ , Thìn thuộc Thổ khắc Thủy. Tỵ thuộc Hỏa bị Thủy khắc, đứng trước khó khăn của hung vận Nhân Thìn vững vàng hơn Quí Tỵ.

LazyCat
26-08-09, 18:36
Thiên Hà Thủy

Cổ thư chép : " Bính Ngọ Đinh Mùi, Bính Đinh thuộc Hỏa, Ngọ nơi chốn Hỏa vượng mà nạp âm lại là Thủy, Thủy từ Hỏa xuất thì phải từ trên trời xuống nên gọi bằng Thiên Hà Thủy ".

Binh Ngọ Đinh Mùi đều là chổ Hỏa vượng mà sinh ra Thủy, Thủy từ Hỏa xuất thì chỉ có từ trên trời xuống. Thiên hà thủy đổ xuống khắp mọi nơi trên trái đất đó là mưa. Vạn vật đều nhờ mưa mà tươi tốt màu mỡ. Tình yêu thương chan hòa. Nhưng mưa có mưa nhỏ, mưa to, mưa xuân, mưa hạ, mưa giông, mưa bão. Không phải mưa nào cũng hữu ích cho bàn dân thiên hạ. Cần mưa nhỏ mà lại mưa lớn, cần mưa lớn mà lại lâm râm, mưa như thế kể bằng vô ích.

Người có mệnh hợp với Thiên hà thủy cần phải thêm trí tuệ mới hay. Người Thiên hà thủy làm việc xã hội, làm việc tôn giáo là hợp cách.

Người Thiên hà thủy nếu đứng ngôi chủ vào thời bình mà không nắm quyền sinh sát, dân gian được nhờ. Mệnh nhiều sát tinh, hung tinh mà là người Thiên hà thủy thì thành ra mâu thuẩn khó thành công trên con đường kinh doanh hay chính trị, quân sự.

Bính Ngọ can chi là Hỏa đều bị Thủy khắc. Đinh Mùi thì chi Mùi thuộc Thổ khắc Thủy nên ứng phó với hung vận linh hoạt hơn Bính Ngọ.

Tỉnh Tuyền Thủy

Sách xưa có chép: " Giáp Thân Ất Dậu, thì Thân là Lâm Quan, Dậu là Đế vượng của Kim cục. Kim vượng tất nhiên Thủy cũng nhờ thế mà sinh tuy nhiên Thủy ở tình trạng này chưa hùng dũng lớn mạnh cho nên gọi bằng Tỉnh Tuyền Thủy ".

Tỉnh Tuyền Thủy tức nước giếng không có gốc nguồn rõ rệt. Ở dưới sâu khơi lên từ lòng đất nên tư tưởng thâm thúy, hành động ẩn dật. Giếng tốt, nước lấy chẳng bao giờ cạn cho nên đức vọng của người Tỉnh Tuyền Thủy vô cùng.

Người xưa giảng rằng: " Nước giếng từ suối lạnh nên trong và lạnh, lấy mãi không hết, mọi người đều uống, trăm nhà dùng nước giếng mà sống ". Nước trong là tinh khiết hay liêm khiết , nhưng nước lạnh là thiếu nhiệt tâm đối với tha nhân.

Tỉnh Tuyền Thủy không bao giờ tự phát, phải dựa vào thời thế, dựa vào thời cơ để đi theo thôi chứ không phải là người mở đầu khởi xướng. Người nạp âm Tỉnh Tuyền Thủy theo ngành tình báo, gián điệp thì hợp cách nếu như cung Mệnh có những sao với tính cách này.

Giáp Thân Ất Dậu đều là Tỉnh Tuyền Thủy. Thân Dậu cả hai đều thuộc Kim, Kim sinh Thủy, bản thân mất nguyên khí. Sau tuổi trung niên sức phấn đấu suy vi.

Đại Hải Thủy

Sách xưa có chép: " Nhâm Tuất và Quí Hợi Thủy, theo Thủy nhị cục, Quan đới ở Tuất, Lâm quan tại Hợi lực lượng hùng hậu. Hợi ví như dòng sông lớn nên gọi bằng Đại Hải Thủy ".

Nước của Đại hải Thủy diện tích quảng khoát, thể tượng bao la , xung kích lực mạnh, làm thiện hay làm ác đều dữ dội. Hoặc là gian hùng của thời đại hoặc là anh hùng cái thế.

Người xưa viết rằng: Nước Đại hải thủy, thâu góm trăm sông, chảy miên man về biển cả, bao quát tính thăng trầm của đất trời, thâu tóm ánh sáng của Nhật Nguyệt. Nguồn của Đại hải thủy có trong có đục. Nhâm Tuất chứa Thổ khí nên đục, Quí Hợi toàn Thủy nên trong. Nếu mệnh đáng bậc chính nhân thì khi ở ngôi vì nào cũng thường bao dung đại lượng ưa làm điều thiện không ưa điều ác, ngược lại mệnh tầm thường hạ tiện sẽ thành con người lấy oán mà trả ân, tâm địa hẹp hòi. Như hai dòng nước trong và đục vậy.

Nhâm Tuất, Quí Hợi đều là Đại hải thủy, có điều Tuất thổ khiến cho Đại hải thủy chảy thành dòng, như lòng sông, đầu óc sáng suốt, cử chỉ minh bạch, thiện ác phân minh.

Quí Hợi, thủy là chính vị, thủy cực vượng chảy tràn lan không bờ bến nên tâm chất khó hiểu, muốn đề phòng cũng khó nhưng mà đề phòng rồi, thiện ác vẫn không rõ rệt. Quí Hợi mà có những sao ở mệnh mang khuynh hướng làm chính trị sẽ là người ứng phó với những biến động lớn rất giỏi, lúc lâm nguy thì biết quyền biến

ROSE
27-08-09, 00:07
Tớ thấy chủ đề này rất hay đấy . Cũng đang muốn đọc mà ngại lọ mọ tìm trên mạng . Thanks LC nhé ! Có Tiểu khê thuỷ không LC ơi ? Sao tớ thấy tử vi của tớ là tiểu khê thuỷ cơ , mà cũng Ất Mão .

LazyCat
27-08-09, 00:16
Tớ thấy chủ đề này rất hay đấy . Cũng đang muốn đọc mà ngại lọ mọ tìm trên mạng . Thanks LC nhé ! Có Tiểu khê thuỷ không LC ơi ? Sao tớ thấy tử vi của tớ là tiểu khê thuỷ cơ , mà cũng Ất Mão .

Ất Mão là Đại Khê Thủy:-@

thoanguyen
27-08-09, 13:37
Mậu Ngọ đi bác ơi, xem cái Thiên Thượng Hỏa với chữ Mậu và chữ Ngọ của em thế nào với

nguyentientuan
27-08-09, 13:47
Mậu Ngọ đi bác ơi, xem cái Thiên Thượng Hỏa với chữ Mậu và chữ Ngọ của em thế nào với
Quý cô tuổi Mậu Ngọ cuộc đời gặp nhiều may mắn, tài lộc dồi dào, toan tính dễ thành, dễ tạo sự nghiệp.

Là người thông minh, tinh lực dồi dào, có óc cầu tiến, dù ra đời sớm vẫn dần dần tạo lập sự nghiệp vững vàng và rất thành công. Đặc biệt quý cô có tinh thần sáng suốt, nhiều tự tin, một lúc có thể đảm nhận nhiều công việc mà vẫn hoàn thành chu đáo.

Quý cô có khả năng giao tiếp, thích cuộc sống phóng khoáng, có tấm lòng quãng đại sẵn sàng giúp đỡ bạn bè, gây được nhiều cảm tình trong cuộc sống cũng như trong công việc làm ăn. Tuy nhiên quý cô khó thích ứng với công việc cần sự kiên nhẫn hoặc có tính cố định. Bản chất nhiều đam mê nhưng cũng mau chán, chỉ thích hợp với công việc cần sự ứng xử nhanh và linh hoạt.

Đa phần quý cô Mậu Ngọ đều có tướng sang quý, nếu sanh ban ngày, hưởng được nhiều phúc lộc, có chồng tài giỏi, giàu sang. Nghịch sang lỗi số, chịu nhiều thăng trầm nhưng lộc tài không thiếu. Đường tình duyên khó được ấm êm, thường khổ vì chồng con.

Tuổi Mậu Ngọ, tiền vận và trung vận thì sung sướng, nhưng về hậu vận thì chỉ được tạm yên chớ không hoàn toàn được nhiều may mắn lắm. Số không được hưởng nhiều phúc đức vào tiền vận. Tóm lại: cuộc đời của tuổi Mậu Ngọ vào tiền vận và trung vận thì được sung sướng, hậu vận không tạo được nhiều phúc đức cho lắm.

Tuổi Mậu Ngọ số hưởng thọ trung bình từ 59 đến 68 tuổi là mức tối đa. Nhưng nếu có làm được nhiều việc phước đức, ăn ở thẳng ngay thì sống thêm được mấy năm nữa, còn nếu ăn ở gian ác thì sẽ bị giảm kỷ.

SỰ NGHIỆP : Năm nay công việc làm ăn cũng như gia đình tình cảm có những chống trái hay gặp bất lợi khó khăn, nhưng quý cô vẫn vượt qua được hết. Công danh sự nghiệp vẫn có phần thăng tiến.

Rất bực bội, khó khăn, không nên mưu sự to lớn hay tính toán công việc đổi thay, dễ bị thua thiệt. Chỉ nên an phận để giải quyết những chướng ngại đối với quý cô. Có như vậy mới tránh được thiệt thòi, giảm phần hao tổn nhiều mặt.

Phối hợp các yếu tố trên, không có cơ hội lớn để vượng phát, dễ sinh bất lợi về sức khỏe và tiền bạc. Cuộc sống gặp nhiều khó khăn, vẫn tạo được một ít thành quả nhưng phải đánh đổi bằng nhiều tâm sức. Dù sao với tình thế này, chỉ nên bình tĩnh giải quyết những rối rắm, đừng quá mong cầu, đừng có nhiều tham vọng, cuộc sống sẽ yên ổn. Đây là một năm khó khăn nhưng vẫn có phần thăng tiến về công việc cũng như gia đạo.

Quý cô là người nắm phần chủ động trong công việc làm ăn. Năm nay vẫn duy trì vị thế nhưng khó phát triển vì có rất nhiều sự quấy nhiễu chung quanh. Tuy vậy công việc vẫn được gặp nhiều may mắn, có cơ hội tốt để vượt qua khó khăn.

Trong khó khăn lại được quý nhân giúp đỡ, nếu biết đối xử hòa hoãn với mọi người, sự chống phá càng dễ hóa giải. Quý cô đang ở thời kỳ có nhiều biến động, đừng quá cứng rắn trong việc giải quyết bất đồng, sẽ có lợi hơn. Về mặt tài chính, tiền bạc có lúc vào nhiều nhưgn phần chi tiêu cũng không nhỏ. Nếu biết lo xa vẫn có phần tích lũy.

Nhìn chung các mặt, năm nay dễ lâm vào rối rắm, tốn hao. Mặc dù quý cô vẫn có nhiều cơ hội làm ra tiền nhưng không phải thuận lợi dễ dàng, phải vượt chông gai mà đi. Đừng quá tự tin vào tài trí của mình mà tính chuyện to lớn. Chỉ nên làm việc cũ, bình tĩnh đối phó với những trở lực, để bảo toàn sự nghiệp là điều nên theo. Có thể nói, đây là năm tuy không thất bại nhưng là năm khó khăn, mọi điều nên cẩn thận.

Sự nghiệp bắt đầu vững chắc vào tuổi 48 trở đi, vào tuổi nầy trở đi, về phần sự nghiệp có kết quả tốt. Tiền bạc có phần tạo lấy nhiều cơ hội thuận tiện cho cuộc đời và thành công hoàn toàn về phần tài lộc.

TÌNH CẢM : Năm nay công việc làm ăn có nhiều biến động, dẫn đến tình cảm khó được an bình. Nếu đã có gia đình, dễ sinh chuyện xích mích trong đời sống vợ chồng. Quý cô là người khá cứng rắn, thích làm theo ý mình, vợ chồng dễ bất bình với nhau vì có lắm mâu thuẫn. Quý cô dù đã có chồng vẫn có người để ý. Nên cẩn thận, dễ bị tai tiếng và kẻ xấu dèm pha, gây thêm bất ổn trong cuộc sống.

Quan hệ với người lớn tuổi ít sinh chuyện rầy rà, còn được sự giúp đỡ tốt đẹp. Quý cô không có phần chơi với bạn cùng lứa, chỉ sinh sự rối rắm thêm phiền lòng.

Đối với quý cô độc thân, năm nay có nhiều người muốn làm quen. Nên chọn lựa cẩn thận kẻo bị thất vọng. Nếu gặp người tâm đầu, ý hợp cũng không nên tính chuyện hôn nhân.

Trong việc làm ăn cũng như mọi việc trong cuộc đời đừng nên giao dịch hay làm ăn với những tuổi nầy, vì những tuổi nầy xung kỵ nếu kết duyên hay làm ăn, có thể gặp cảnh biệt ly hay tuyệt mạng giữa cuộc đời, đó là các tuổi: Tân Dậu và Quý Dậu. Hai tuổi nầy đại kỵ và xung khắc với tuổi Mậu Ngọ. Những tuổi rất hạp cho sự làm ăn như: Kỷ Mùi, Quý Hợi và Ất Sửu. Những tuổi nầy làm ăn giao dịch thì có nhiều thắng lợi.

Khai trương, nhận việc, xuất hành nên chọn giờ chẵn, ngày chẵn, tháng chẵn sẽ được thuận lợi hơn.

SỨC KHỎE : Năm nay dễ bị ốm đau khi thời tiết thay đổi, nên quan tâm đến phần khí huyết và bệnh phụ nữ. Không nên ỷ vào sức trẻ, làm việc quá nhiều, dễ lâm bệnh bất ngờ, vừa trở ngại công việc vừa tốn hao.

Cẩn thận phòng tai nạn. Lái xe cần chú ý nhiều hơn.

NHỮNG ĐIỂM ĐẶC BIỆT TRONG NĂM :

– Mùa Xuân : Tháng giêng & 2 : có trở ngại nhưng vượt qua. Tài lộc dồi dào. Có cơ hội tốt để vươn lên. Tháng 3 : gặp may mắn nhưng không nên mưu sự lớn. Tiền bạc vào ra đều nhiều. Gia đình thêm người thêm của.

- Mùa Hạ : Tháng 4 : có nhiều rối rắm. Bị tai tiếng. Công việc làm ăn trì trệ. Tháng 5, 6 : trong may có rủi. Công việc dao động bất thường. Lộc tài không đều. Gia đình, tình cảm bất ổn.

- Mùa Thu : Tháng 7, 8 : Cuộc sống nhiều dao động, vui buồn, may rủi đan xen. Nên cẩn thận trong giao dịch tài chánh. Phòng tai nạn, ốm đau. Tháng 9 : có cơ hội tốt để giải quyết khó khăn. Gia đình vui vẻ. Tiền bạc trung bình.

- Mùa Đông : Tháng 10 : Có lợi lớn, cần phòng hao hụt, không nên nghe lời họp tác làm ăn. Công việc trôi chảy. Tháng 11, 12 : có nhiều cơ hội tốt, công việc có thành tựu. Uy thế tăng trưởng. Tài lộc dồi dào.

CÚNG SAO HẠN : Hàng tháng vào lúc 9 giờ tối, ngày 25 âm lịch, dùng 20 ngọn đèn, hương hoa trà quả làm phẩm vật, quay mặt về hướng Đông mà khấn vái.

NHỮNG NĂM KHÓ KHĂN NHẤT

Tuổi Mậu Ngọ có những năm khó khăn nhứt là năm gặp nhiều trở ngại và làm ăn không được phát đạt cho lắm, đó là những năm ở vào số tuổi 22, 29 và 34 tuổi

NHỮNG DIỄN TIẾN TỪNG NĂM

Từ 31 đến 35 tuổi: Năm 31 tuổi, kỵ biển, kỵ mùa hè. Năm 32 tuổi, coi chừng bị lừa gạt hoặc bị hao tài bất ngờ. Năm 33 tuổi, có đau bịnh nặng, hao tài và gặp nhiều chuyện xui xẻo. Trọn năm xấu. Năm 34 tuổi, kỵ đi xa, kỵ hùn hạp. Năm 35 tuổi, đừng phiêu lưu tình cảm trong năm nầy, có hại.

Từ 36 đến 40 tuổi: Đây là những năm sôi động trở lại về vấn đề tình cảm, hãy đề phòng những cuộc phiêu lưu tình cảm bất ngờ có thể đem đến những kết quả khốc hại làm tan nát hạnh phúc hiện có của bạn. Tài lộc hơi kém.

Từ 41 đến 48 tuổi: Đây là những năm mà cuộc đời bạn sẽ có hai ngã rẽ tâm tình, hoặc một là tràn trề hạnh phúc nếu bạn giữ vững được lý trí của con tim ở trong những năm trước. Hai là hết sự khốn đốn, phũ phàng, bị phụ rẫy, đau khổ nếu bạn cố tình dấn thân vào cuộc phiêu lưu tình cảm của những năm từ 36 đến 40 tuổi. Những năm nầy tài lộc của bạn ở mức bình thường. Đôi khi cũng có hoạnh tài bất ngờ, tuy nhiên không lớn lắm. Dù sao tiền bạc vẫn còn ở mức dồi dào trong những năm nầy.

Từ 49 đến 55 tuổi: Năm 49 tuổi, có nhiều thành công trong cuộc đời, cuộc sống có phần sung túc hơn trong những năm khác. Năm 50 tuổi, năm nầy có đau bịnh, nhất là nên cẩn thận vào tháng 4 và tháng 8 Âm lịch, có hao tài tốn của. Năm 51 tuổi, năm nầy có thể phát triển được sự nghiệp và vấn đề tình cảm, việc làm ăn có thể mang nhiều kết quả tốt đẹp. Năm 52 tuổi, năm nầy có hao tài vào những tháng 8 và 11, hai tháng nầy thận trọng việc tiền bạc, những tháng khác bình thường. Năm 53 tuổi, có thành công đôi chút về tài lộc, tình cảm vượng phát mạnh mẽ. Năm 54 và 55 tuổi, hai năm bình thường không có việc gì xảy ra quan trọng trong cuộc đời bạn.

Từ 56 đến 60 tuổi: Năm 56 tuổi, không có nhiều hy vọng thành công về tài lộc, nhưng vấn đề tình cảm có nhiều vui tươi. Năm 57 và 58 tuổi, khá tốt, bổn mạng vững vàng, có nhiều cơ hội thuận tiện tạo lấy tiền bạc. Năm 59 và 60 tuổi, hai năm nầy bình thường, đại kỵ mùa thu, đề phòng bịnh hoạn hay tai nạn.

thoanguyen
27-08-09, 13:52
Cảm ơn bác nhiều, Đây là bói thôi ạ, đọc thấy chung chung quá, tuổi nào cũng có vẻ đúng! :bz Em muốn xem tử vi nữa cơ,

thoanguyen
27-08-09, 13:52
Hic, em ko thấy nút cảm ơn đâu nhỉ! Cảm ơn bác nguyentientuan lần nữa ạ!

nguyentientuan
27-08-09, 14:01
Hic, em ko thấy nút cảm ơn đâu nhỉ! Cảm ơn bác nguyentientuan lần nữa ạ!
May là trời cũng có chổ thênh thang cho ngựa chạy !
Năng động , biết làm tiền , thích đi đây đi đó .
Tuổi Ngọ là con Giáp du mục trong mười hai con giáp . Tới lui từ chổ nầy , dự án nọ , sang chổ khác , chương trình khác .
Giỏi là biết làm ra tiền .
Làm ra tiền cốt để thỏa mản ước vọng ngầm là cũng có chút đỉnh với người ta .
Tuy vậy Tuổi này vừa lo làm tiền mà vẫn giử được tính độc lập và tự do cho mình .
Tuổi ngựa vừa tình tứ lại vừa kín đáo khiến nên thường kẹt trong tình thế khó xử . Thế nhưng ái tình đến với Tuổi nầy một cách dễ dàng , bởi lẻ tuổi Ngọ tự mình phô bày hoặc quyến rũ người khác phái . Cứ xem trong các buổi tiệc tùng , bạn thấy tuổi ngựa có lẻ là tuổi thường hay có mặt nhất .
Mặc dù Tuổi nầy không có tính phô trương lắm nhưng cũng gắng tỏ ra là mình biết , mình khôn , mình giỏi một phần nào đó .
Ðiểm lạ là tuổi Ngựa hay cảm thấy mình hơi thua kém bạn bè chút đỉnh nên hay thay đổi nhóm bạn chỉ vì vô cớ cảm thấy mình có gì không hoàn chỉnh lắm .
Tính thiếu kiên nhẫn nầy khiến cho tuổi Ngựa ít chú tâm đến nhu cầu của người khác .
Tuổi nầy thà nắm chắc tình huống trong tay mình trước chớ không chờ đến kẻ khác tác động đến hoặc cho ý kiến vô . Tính "Một thân một ngựa" nầy khiến người khác phải né xa ra , nhưng lại khiến cho Tuổi nầy hùng dũng hơn và dễ thành công hơn .
Tuổi Ngựa rất là tự tin và sẳn sàng làm bất cứ việc gì để tiến lên trước hơn người khác .
Mặc dù tuổi Ngựa không có khuynh hướng nhìn xa một sự việc , nhưng lại rất nhạy bén biết điều gì là cần làm .
Tuổi nầy hăng làm và làm được việc thật sự .

Ðiều cần bổ túc lớn nhất cho tuổi Ngựa là phải tập cho tâm tính hòa nhã . Có như vậy mới không bị chao đảo và thấy rằng hạnh phúc trong đời là ngay đây , không phải đâu xa .

LazyCat
27-08-09, 22:22
(%)Bây giờ tôi xin được chép tiếp về hành Mộc.
Hành Mộc có sáu nạp âm chia thành: Tang đố mộc, Tùng bách mộc, Đại lâm mộc, Dương liễu mộc, Thạch lựu mộc, Bình địa mộc.

Tang Đố Mộc

Sách xưa có viết về Tang Đốc Mộc như sau : "Tang Đố mộc cho tuổi Nhâm Tí, Quí Sữu thì Tí thuộc Thủy (Thân Tí Thìn), Sửu thuộc Kim (Tỵ Dậu Sữu). Thủy vừa sinh Mộc Kim đã phạt Mộc như hình tượng của cây dâu, vừa trổ lá non đã bị hái xuống mà nuôi tằm."

Lá dâu tầm ăn, thân dâu làm cung, dùng vào nhiều việc. Từ chiếc lá đến cành cây, đến thân cây đều bị sử dụng cho nên Tang đố mộc hoàn toàn bị động tâm tình rộng rãi, nhưng cái rộng rãi đó do người điều khiển. Khi có tiền, lúc thành công thường bị đẩy vào tình trạng hay giúp đỡ người này kẹ nọ, từ anh em cho đến họ hàng bạn bè.

Người Tang đố mộc khó có thể nắm giữ ngôi vị lãnh đạo. Nếu mệnh tốt mà cho điều khiển những công việc có tính cách về xã hội thì phù hợp. Tuổi Quí Sữu so với Nhâm Tí, bản thân bị tước giảm nguyên khí cho nên gặp hung vận kém khả năng ứng phó.

Tùng Bách Mộc

Sách có viết: " Canh Dần Tân Mão, với Mộc cục thì Lâm quan tại Dần, Đế vượng tại Mão, mộc đến hồi cực thịnh nên gọi bằng Tùng Bách Mộc ".

Tùng bách mộc trong sương tuyết mà vẫn cứng cỏi vươn lên xanh tươi, vừa kiên nhẩn chịu đựng, vừa đầy ắp nghị lực chống với khí hậu ác liệt. Kiên định, dù thử thách nào cũng không bị bẽ gãy. Ý chí luôn luôn muốn vượt thiên hạ và kỷ luật ngay cả đối với bản thân.

Mệnh tốt, người Tùng bách mộc sẽ thành công khác người trên bất cứ lãnh vực nào. Mệnh xấu luôn luôn thành kẻ bất đắc chí. Tân Mão nhẫn nại hơn Canh Dần, Canh Dần cương nghị hơn Tân Mão.

Đại Lâm Mộc

Sách có viết: " Mậu Thìn Kỷ Tỵ, Thìn là giải bình nguyên rộng lớn, Tỵ là anh Thái dương chói vhan tạo thành cây cối phồn vinh như rừng nên gọi bằng Đại Lâm Mộc. Cây trong rừng um tùm rậm rạp khắp nơi một màu xanh nên tâm chất không mưu cầu đột xuất ".

Trí tuệ linh mẫn với sự ngã theo thời thế, làm chức thừa hành thì tốt chứ nếu ở vào cương vị chỉ huy không hay. Khả năng cũng như khuynh hướng không có màu sắc riêng của mình.

Số Mậu Thìn Kỷ Tỵ, thì Mậu Thìn đều thuộc Thổ, Mộc khắc Thổ làm nhược khí thế, trong khi Kỷ Tỵ thì Tỵ là Hỏa. Bởi vậy, Kỷ tỵ trong cuộc phấn đấu chống với hung vận dễ dàng hơn Mậu Thìn.

Dương Liễu Mộc

Sách có viết: " Nhâm Ngọ Quí Mùi, theo Mộc cục thì Tử ở Ngọ, Mộ ở Mùi. Mộc vào đất Tử , Mộ cho dù được Nhâm Quí là Thủy sinh cũng vẫn yếu nhược nên gọi bằng Dương Liễu Mộc. Cành liễu mảnh mai, lá liễu buông rủ, thứ Mộc không có cốt khí. Hình chất thì vậy, nhưng tâm sự lại rất thấu đáo, tình cảm phức tạp đa đoan ".

Dương liễu mộc thuộc âm nên tính tình kín đáo, chỉ thiếu căn bản suy tư luôn luôn theo gió mà ngã nghiêng. Bén nhạy với thực tế, tâm không mấy chính trực.

Dương liễu mộc khó có thể là một người tâm phúc trung thành. Nhâm Ngọ vì Ngọ là Hỏa, Mộc sinh Hỏa cho nên mệnh vượng cứng rắn hơn Quí Mùi vì Thổ bị Mộc khắc.

Thạch Lựu Mộc

Sách xưa có viết : Canh Thân, Tân Dậu với Thân là tháng 7, Dậu là tháng 8 , thời gian này Mộc suy yếu cơ hồ bị tuyệt duyệt. Chỉ có cây Lựu kết trái nên gọi là Thạch Lựu Mộc.

Kim khắc Mộc, Kim như dao búa , Thạch lựu mộc cứng cáp, dao búa không dể đốn ngã. Canh Thân, Tân Dậu cả chi lẫn can đều đều thuộc Kim thế mà nạp âm thành Mộc, lấy cái lẽ tương khắc chống chọi để mà giữ vững vậy. Hình Mộc mà chất đá nên gọi là Thạch Lựu . Nếu mệnh mang những sao trung kiên là một trung thần quang minh, một người bạn khả dĩ tin cậy được. Nếu mệnh mang những sao gan dạ nên con người can trường, dám làm dám chịu. Mệnh hiện những sao thiếu trí tuệ thành ra người ngoan cố khó mà cảm hóa.

Canh Thân Tân Dậu, Mộc hoàn toàn bị Kim chế ngự nên ít có khả năng bén nhạy với biến động. Người Thạch Lựu Mộc vào nghiên cứu hợp cách hơn vì ít thay đổi chí hướng.

Bình Địa Mộc

Sách có viết: " Mậu Tuất Kỷ Hợi thì Tuất là cánh đồng, Hợi là nơi cây cỏ sinh được. Tuất Hợi lúc Mộc khí qui căn, âm dương bế tắc như mùa đông cánh lá trơ trụi mà gốc rễ ẩn tàng để nẩy nở ".

Người Bình Địa Mộc mà mệnh tài cán thì cái tài thường không ẩn hiện, nếu được dùng thì ví như gặp cơn mưa thuận gió hòa, ở thời loạn ví như bị sương tuyết dập vùi hoài nên tài bất ngộ. Bình địa mộc cần gặp quí nhân, gặp người biết dùng. Được sử dụng đúng sẽ làm việc đắc lực. Bình địa mộc trông vẻ ngoài không bề thế lẫm liệt nhưng bên trong chứa chất tài năng đáng nể. Bình địa mộc mà mệnh bình thường sẽ mãi mãi bình thường dù được vận hay.

Mậu Tuất toàn Thổ, Thổ bị Mộc khắc. Kỷ Hợi, thì Hợi thủy sinh Mộc bởi thế nên Kỷ Hợi làm việc mẫn cán hơn Mậu Tuất
(%)

monkey2004
28-08-09, 11:57
Quả thật thiên biến vạn hóa, có ai thông tin về cái tuổi 1977 Đinh Tỵ chết tiệt của M không?8->

Waterfall
28-08-09, 13:00
Lá dâu tầm ăn, thân dâu làm cung, dùng vào nhiều việc. Từ chiếc lá đến cành cây, đến thân cây đều bị sử dụng cho nên Tang đố mộc hoàn toàn bị động tâm tình rộng rãi, nhưng cái rộng rãi đó do người điều khiển. Khi có tiền, lúc thành công thường bị đẩy vào tình trạng hay giúp đỡ người này kẹ nọ, từ anh em cho đến họ hàng bạn bè.

Người Tang đố mộc khó có thể nắm giữ ngôi vị lãnh đạo. Nếu mệnh tốt mà cho điều khiển những công việc có tính cách về xã hội thì phù hợp. Tuổi Quí Sữu so với Nhâm Tí, bản thân bị tước giảm nguyên khí cho nên gặp hung vận kém khả năng ứng phó.


Mộc xịn đây, nhưng đoán sai mất rồi. Héhé...

LazyCat
28-08-09, 13:19
(%)Hành Hỏa có sáu nạp âm chia như sau: Tích Lịch Hỏa, Lô Trung Hỏa, Phúc Đăng Hỏa, Thiên Thượng Hỏa, Sơn Hạ Hỏa, Sơn Đầu Hỏa.

Tích Lịch Hỏa

Sách có viết: " Mậu Tí Kỷ Sữu, Sữu thuộc Thổ, Tí thuộc Thủy, Thủy ở chính vị mà nạp âm lại là Hỏa, nếu không phải là Thần long tất nhiên Thủy không biến ra Hỏa được, cho nên gọi bằng cách Tích Lịch Hỏa như tia lửa từ sấm chớp tức Thủy trung chi Hỏa ".

Tích lịch hỏa lẫm liệt như tiếng sấm vang, nhanh tựa tia điện. Người Tích lịch hỏa nếu mệnh nhiều sao tốt thì sự nghiệp hoặc cơ nghiệp thành công hơn người và hay thích làm việc to tát. Nếu thời thế càng loạn lạc, càng xáo trộn thì khả năng càng phát triển.

Người Tích lịch hỏa mà bản mệnh tầm thường thì ham chuộng hư danh, thích nổi trôi và dễ bị xúi giục làm những việc thiếu suy nghỉ. Người Tích lịch hỏa nếu dính vào cờ bạc hoặc làm ăn đầu tư thường bị người ta bịp những chuyện bất ngờ. Người Tích lịch hỏa tâm ý nhiệt thành không giảo quyệt, luôn luôn giữ ngăn nắp và kỷ luật.

Lô Trung Hỏa

Sách có viết: " Bính Dần Đinh Mão, Dần là tam dương, Mão là tứ dương, Hỏa được đất lại có Dần Mão trợ lực, trời đất lúc ấy như lò lửa và vạn vật nảy sinh, nên gọi bằng Lô Trung Hỏa ".

Bính Dần Đinh Mão, khí thế phát huy nhờ chất đốt mà hiển minh, âm dương còn lẫn, thiên địa chung một lò lửa. Lửa dung hòa tất cả từ âm dương đến sáng tối cả trời lẫn đất nói chung là vạn vật trong vũ trụ. Dùng Hỏa để cải tạo vạn vật.

Có câu: " Lô Trung Hỏa gỉa, thiên địa vi lô, âm dương vi thán, quang huy ư vũ trụ, đào dã ư càn khôn " (Lửa trong lò vũ trụ, trời đất, âm dương, càn khôn đều được đào luyện).

Người Lô Trung Hỏa có mệnh lớn, tâm tưởng bao la, lúc đắc thế khả dĩ hiển diện tài hoa danh tiếng với đời. Lô Trung Hỏa mang một khuyết điểm nếu mệnh kèm theo những hung sát tinh hãm dễ thành kiêu căng ngạo mạn, dễ bị nghe theo lời nịnh hót mà thất bại.

Bính Dần Đinh Mão hai hàng chi đều thuộc Mộc, Mộc sinh Hỏa tước nhược nếu gặp hung vận thì sẽ thiếu trầm tĩnh để giải quyết công việc.

Phú Đăng Hỏa

Sách có chép: " Giáp Thìn Ất Tỵ, Tỵ là độ góc mặt trời lên đến đỉnh và sắp lặn về tây. Ánh chiều tà còn tung ra chiếu sáng vạn vật. Đồng thời cũng là lúc thiên hạ sữa soạn lên đèn. Phú Đăng Hỏa là ánh lửa ban đêm khả dĩ chiếu sáng những nơi mặt trời, mặt trăng không chiếu tới được, gọi khác đi bằng địa minh chi hỏa ".

Giữa ban ngày, ánh lửa đèn không thể thi triển quang huy. Bởi vậy người mang nạp âm Phú Đăng Hỏa hay dạ minh chi hỏa thường thích bóng tối không muốn xuất đầu lộ diện, nhưng lại rất tài hoa, lúc cần đến thật được việc. Lúc bình thường, lúc chưa đắc thế thì sống âm thầm ẩn danh. Khi gặp thời cơ thì sẽ như ánh đèn soi vào bóng tối.

Giáp Thìn thì Thìn thuộc Thổ, Hỏa sinh Thổ tính chất cương mãnh hơn, trong khi Ất Tỵ thì Tỵ là Hỏa đồng tính với Hỏa, sức mạnh không bằng Giáp Thìn. Sức mạnh ở đây nói về khí chất tinh thần để ứng phó với hung vận.


Thiên Thượng Hỏa

Sách có viết: " Mậu Ngọ Kỷ Mùi, Ngọ là nơi Hỏa vượng, Mộc ở trong chi Mùi lại sinh Hỏa. Hỏa khí bùng lên gặp đất sinh nên gọi bằng Thiên Thượng Hỏa ".

Thiên Thượng Hỏa là lửa từ trên trời. Mậu Ngọ là mặt trời, Kỷ Mùi là mặt trăng sưởi ấm sông núi, chiếu sáng vũ trụ chan hòa mọi chỗ không thiên vị. Bởi vậy người Thiên Thượng Hỏa rất công bình, chính trực, hào sảng.

Số nạp âm Thiên Thượng Hỏa mà có nhiều cát tinh tại mệnh nếu đứng ngôi chủ vào thời bình, bàn đân thiên hạ được nhờ. Nhưng Thiên Thượng Hỏa mà tuổi Kỷ Mùi là mặt trăng tính chất nhu hòa, lắm khi lại lạnh nhạt và vô tình. Khi đứng ngôi chủ mà mệnh cung mang những sao thủ đoạn mưu lược thì các người phò tá hay làm việc dưới cũng nên coi chừng. Người Thiên Thượng Hỏa dù Mậu Ngọ hay Kỷ Mùi đều dễ ưa thích danh vị tiếng tăm.

Sơn Hạ Hỏa

Sách có viết: " Bính Thân Đinh Dậu, Thân là cửa của đất. Dậu là cổng của mặt trời lặn. Ánh dương quang đến chỗ này thì ẩn tàng nên gọi bằng Sơn Hạ Hỏa ".

Bính Thân Đinh Dậu, khí tắt hình tàng như mặt trời lặn phía tây, sức đã yếu nhược, càng tối càng hiu hắt vàng vọt. Người Sơn Hạ Hỏa thường dễ có tâm chất hẹp hòi, tự tư tư lợi, mưu lược không đủ, nhưng vẻ ngoài lại vênh vang, lúc nào cũng lý luận.

Nạp âm Sơn Hạ Hỏa dù số xấu hay tốt cũng nên cẩn thận khi dùng họ làm tâm phúc hoặc người cộng tác giúp việc vì ít khi họ là người cộng sự chân thành. Thân Dậu hành Kim đều bị Hỏa khắc nên thường rối ren trước biến động hay hung vận.

Sơn Đầu Hỏa

Sách có viết: " Giáp Tuất Ất Hợi, thì Tuất Hợi là cử Trời, Hỏa chiếu Thiên môn, quang huy cực cao ".

Sơn Đầu Hỏa chỉ thấy sáng rực mà không thấy lửa cho nên tâm cơ thâm trầm. Ít ai hiểu, vui giận không lộ ra sắc diện, tài trí cao mà không cho người thấy được. Khi gặp vận tốt thì thành công tấn tới như đám cháy rừng.

Người Sơn Đầu Hỏa lúc gặp thời âm thầm làm việc không biết mệt, gặp thời rồi cũng không bao giờ lãng phí thời gian. Nếu mệnh tốt thì danh vọng sự nghiệp hơn người. Mệnh xấu cũng đắc lực nhanh nhẹn để phục vụ thừa hành.

Giáp Tuất, Tuất là Thổ được Hỏa sinh. Ất Hợi, Hợi là Thủy bị Hỏa khắc. Giáp Tuất ứng phó với hung vận biến động linh hoạt hơn Ất Hợi.(%)

leduong
28-08-09, 14:20
Phần lớn các sách số lý đều nói

Lưỡng kim – Kim khuyết (mẻ) Tương khắc
Lưỡng mộc – Mộc triết (gãy) Tương khắc
Lưỡng thủy – Thủy kiệt (khô) Tương khắc
Lưỡng Hỏa – Hỏa quang (tắt) Tương khắc
Lưỡng Thổ - Thổ hành sơn (núi) Tương sinh

nhưng không phải thế. Vì tùy vào từng hành thì mới là tương sinh hay tương khắc,
Lưỡng Thổ - Thổ hành sơn (núi) Tương sinh
chỉ đúng với 2 loại thổ mà thôi (2 laọi cụ thể nào thì quên rồi :( )
tương tự như thế
Lưỡng kim – thành ... (ko nhớ rõ)
Lưỡng mộc – thành Lâm
Lưỡng thủy – thành Giang (chỉ đúng với đại hải thủy kết hợp với lưu trường thủy)
Lưỡng Hỏa – thành ....(ko nhớ rõ)

Mọi người nên hiểu là lý thuyết âm dương ngũ hành là một lý thuyết hoàn chỉnh và toàn diện, vì thế sẽ không có chuyện chỉ duy nhất Lưỡng thổ thành sơn đâu mọi cái khác cũng có thể.

Cafemotminh
28-08-09, 15:15
@leduong : "Phần lớn các sách số lý đều nói ...".........

Cảm ơn bạn leduong đã cung cấp thêm thông tin . Qua đó tôi vỡ ra một số điều lâu nay chưa rõ. Tôi mệnh Thổ, nửa kia của tôi cũng Thổ luôn ! Vậy mà tôi thấy lưỡng Thổ có vẻ không thành Sơn mà thành...Đụn Rơm, dễ cháy thui bất kỳ lúc nào !:-?? Tương tự như vậy, có bạn lưỡng Hoả thành...Than :-ss
Thế mới đau ! Buồn ....[-(

thoanguyen
30-08-09, 18:27
Nhà em Thiên Thượng Hỏa và Đại Khê Thủy, hic, lửa trời và nước lớn, oánh nhau chan chát, mẻ đầu sứt trán suốt =((

LazyCat
01-09-09, 00:10
(%)Hành Thổ có sáu nạp âm phân thành: Bích Thượng Thổ, Thành Đầu Thổ, Sa Trung Thổ, Lộ Bàng Thổ, Dạ Dịch Thổ, Ốc Thượng Thổ.

Bích Thượng Thổ

Sách xưa có viết: " Canh Tí Tân Sữu, thì Sữu là chính vị của Thổ, mà Tí là đất vượng của Thủy, Thổ gặp Thủy biến thành bùn cho nên gọi bằng Bích Thượng Thổ ".

Bùn nhuyễn mềm muốn chất thành vách phải tựa vào kèo cột phiên, thiếu chổ tựa khó thành vách tường. Bởi thế người mang nạp âm Bích Thượng Thổ phải tựa vào người mà thành sự, làm quản lý hoặc kẻ thừa hành thì tốt, nếu đứng vào ngôi chủ dể thất bại. Tuy nhiên cũng có những loại đất chất dính mạnh, khi phơi nắng trở thành cứng cáp không dựa vào kèo cột cũng đứng vững được. Bởi thế người mang nạp âm Bích Thượng Thổ cần phải trải qua nhiều kinh nghiệm đời mới hay.

Vách là để che gió, chắn mưa cho nên tâm chất thường bao dong. Nếu mệnh có nhiều hung sát, đa nghi, thủ đoạn mà mang nạp âm Bích Thượng Thổ dể đưa đến sơ hở mà bị hại. Canh Tí, Tí thủy bị thổ khắc, khí thế bị nhược. Tân Sữu, thổ vào chính vị sức đề kháng cương mãnh.

Thành Đầu Thổ

Sách có viết: " Mậu Dần Kỷ Mão, hai Thiên can đều là Thổ. Dần thuộc cấn sơn, Thổ tích thành núi cho nên gọi bằng Thành Đầu Thổ ".

Quẻ Cấn kinh dịch giải thích là núi ( Cấn vi sơn ). Mạng nạp âm Thành đầu thổ tính tình trung trực chất phác, thích giúp người, trung thành nếu như mệnh số bình thường.

Mệnh số nếu hội tụ cách tốt thì khí thế khác hẳn, núi chính là nơi của rồng nấp, cọp ở. Người này mang chí lớn với tâm chất sảng trực xem thành bại là chuyện thường tình. Thời loạn cũng như lúc bình đều có thể dùng vào vai trò lãnh đạo gây cơ dựng nghiệp theo chiều hướng thiện.

Mậu Dần Kỷ Mão thì Dần Mão đều thuộc Mộc, Mộc khắc Thổ cho nên thời bình yên ổn dể thành công hơn là loạn thế.

Sa Trung Thổ

Sách xưa có viết : " Bính Thìn, Đinh Tỵ, vì Thổ cục tràng sinh tại Thân cho nên tại Thìn là Mộ khố, Tỵ là Tuyệt, Thiên can Bính Đinh đều thuộc Hỏa. Thổ vào tuyệt địa đến chổ ẩn tàng (Mộ khố) lại được hỏa sinh cho nên gọi là Sa Trung Thổ ".

Thổ tới khố không phải cát của sa mạc mà là cát của đất phù sa vì Thìn thuộc thủy khố. Gặp sông nước đẩy đưa tài bồi thành bãi thành bờ nhiều màu mỡ. Sa Trung Thổ tùy sóng, tùy gió nên có tính chất uyển chuyển, giỏi đầu cơ, biết lợi dụng thời thế. Đây cũng là mẫu người có khả năng hai mặt của thiện ác khi là rồng lúc thành rắn, vừa anh hùng và vừa là gian hùng.

Bính Thìn, Thìn thuộc Thổ chính vị cho nên cứng rắn hơn. Đinh Tỵ, Tỵ thuộc Hỏa tiết thân mà sinh Thổ cho nên nguyên khí giảm không kiên trì bằng Bính Thìn.

Lộ Bàng Thổ

Sách có chép: " Canh Ngọ Tân Mùi, Mộc trong Mùi sinh Hỏa của Ngọ. Hỏa vượng tạo hình cho Thổ, Thổ mới sinh chưa đủ sức để nuôi dưỡng vạn vật nên gọi bằng Lộ Bàng Thổ ".

Hỏa vượng, Thổ thành hình, đất cứng bởi vậy tâm chất quật cường mà quá nóng nảy, tâm tình chính trực nhưng lại không chín chắn để phân biệt cho rõ ràng thiện ác, thuận lợi hay không thuận lợi.

Lộ Bàng Thổ đất rộng, trải dài miên viễn cần có Thủy cho đất hết khổ để cây cỏ mọc. Lộ Bàng Thổ vào con đường nghiên cứu, học vấn sẽ như chất Thủy tưới cho Thổ trở nên hữu dụng.

Lộ Bàng Thổ thiếu khả năng làm con người hành động để xoay chuyển thời thế cho nên nếu đứng ở vị thế làm một lý thuyết gia thì hay hơn. Canh Ngọ, Ngọ thuộc Hỏa, Hỏa sinh Thổ làm mất nguyên khí sức đề kháng hung vận không bằng Tân Mùi, vì Mùi ở vào chính vị Thổ cho nên nẫn nại và kiên trì hơn.

Đại Dịch Thổ

Sách có viết: " Mậu Thân Kỷ Dậu, thì Thân thuộc Khôn là đất. Dậu thuộc cung Đoài là đầm nước (trạch). Chữ Dịch có một cửa chữ Trạch, thật ra phải gọi bằng Trạch Thổ mới đúng ".

Khôn là đất. Trạch là chỗ hồ ao đầm vũng có nước. Sông đem nước đi khắp nơi, đầm ao là chỗ cá sinh sống thỏai mái, màu mở và súc tích. Đại Dịch Thổ tự nó là súc tích, đất rộng, sông sâu.

Mệnh tốt mà nạp âm Đại Dịch Thổ thường làm được công lớn ích lợi cho thiên hạ . Mệnh thường phụ giúp các việc thiện và luôn luôn có thành tâm.

Mệnh nhiều hung sát mà cho cáng đáng những công tác nhân đạo chỉ đưa đến hỏng việc. Thân Dậu đều thuộc Kim. Thổ sinh Kim nên Mậu Thân hay Kỷ Dậu đều có khả năng kiên trì và ít bối rối.

Ốc Thượng Thổ

Sách có viết: " Bính Tuất Đinh Hợi, Bính Đinh thuộc Hỏa. Tuất Hợi là cửa trời(Thiên Môn). Hỏa ở trên cao dĩ nhiên đất không sinh dưới thấp nên gọi bằng Ốc Thượng Thổ ".

Ốc Thượng Thổ là ngói lợp mái nhà để che sương, tuyết mưa. Muốn thành ngói Thổ cần trộn với nước lại đưa vào lò lửa luyện nung. Người mang nạp âm Ốc Thượng Thổ dù số hay cũng phải trãi qua những thử thách khó khăn gian nan rồi mới thoát thai hoán cốt để đưa tới thành công. Nếu đi con đường dễ thì cái thành công chỉ là thứ thành công chóng tàn, dễ vỡ như hòn ngói chưa nung chín gặp mưa nhanh chóng thì sẽ nát tan ra.

Bính Tuất, Tuất thuộc Thổ chính vị sức chiến đấu dẻo dai, cứng cỏi hơn. Đinh Hợi vì Hợi thuộc Thủy, Thổ khắc Thủy cho nên sức đề kháng không khoẻ bằng Bính Tuất.

Đến đây là xong phần Ngũ Hành Nạp Âm từ sách Tử Vi Tinh Điển. Hy vọng sẽ giúp các bạn hiểu thêm về bản mệnh của mình.(%)

LazyCat
01-09-09, 00:23
Rằm tháng Bảy, thắp một nén nhang lên bàn thờ không chỉ là nhớ tới người thân ở cõi bên kia và cầu mong phù hộ cho những điều tốt đẹp, mà còn là dịp nhắc nhở chúng ta đã báo hiếu những người thân đang hiện hữu như thế nào. Những người mộ đạo nên cúng lễ và hành xử ra sao để lễ trọng, lòng trong và đời thêm đẹp ?

Người ta cúng Rằm tháng Bảy tại gia đình như thế nào, đồ lễ gồm những gì ?
- Thật ra cúng Rằm tháng 7 thì đồ lễ vẫn là tuỳ tâm: hương hoa, đèn nến, lễ vật chay tịnh và thắp nén hương để hướng đến ban thờ. Nhưng quan trọng hơn vẫn là lúc đó tâm mình phải hướng đến thiện, giúp đỡ mọi người phải hướng đến thiện, hướng đến những người đang cần mình giúp đỡ. Như vậy, không có nghĩa là đồ lễ to mới là long thành.

Kính thưa Đại Đức Thích Thanh Quyết, người có thể cho con biết nguồn gốc của Rằm tháng Bảy và Lễ Xá tội vong nhân ? Con xin cảm ơn người !
- Theo Kinh Mục niên, khi Đức Mục Liên tu hành thành chính quả, thì mới nhập thần thông thấy mẹ mình khi lúc sống làm nhiều điều ác nên khi chết đi phải đoạ vào địa ngục chịu những cực hình. Mục niên bạch với Đức Phật Thích ca cách cứu vớt mẹ mình khỏi địa ngục. Lúc đó, Đức Phật nói: Rằm tháng Bảy là ngày Chư Phật hoan hỉ, Chư Tăng vui mừng vì có thêm tuổi Đạo mới, nên nhờ các Chư Tăng tụng kinh niệm Phật thì mẹ sẽ được siêu thoát. Từ đó tới nay, cứ đến rằm Tháng Bảy mọi người căn cứ phép trên làm lễ phả độ gia tiên, cầu nguyện cho cha mẹ, ông bà mình và những người đã quá cố được siêu thoát.

Cháu xin được hỏi Đại đức Thích Thanh Quyết, trong lễ Vu Lan thì nên mua gì để tặng bố mẹ còn sống ?
- Thực ra mua gì cũng được. Tuỳ theo ý thích của bố mẹ và túi tiền của mình cháu ạ. Điều quan trọng hơn cả là biếu bố mẹ mình bằng một tấm lòng hiếu thảo trong cuộc sống hàng ngày. Như vậy không cần đến Rằm tháng 7 mà trong cả 365 ngày đều có thể thực hiện được việc báo hiếu báo ân.

1.Tại sao khi ăn chay, người ta hay làm những mòn ăn giả thịt gà, vịt, heo và chả...? Có phải là để đánh lạc hướng hệ thần kinh khi ăn đồ chay thấy ngon không? Nếu làm giả gà, vịt để cho đẹp thì tại sao không làm theo những hình tượng khác ?
2. Khi mình cúng, người chết có nhận được không ? Hay chỉ là hình thức tưởng nhớ mà thôi, và nếu Không thì đâu cần phải cúng nhiều đồ ăn mà chỉ cần thắp nhang cầu nguyện là đủ rồi, có được không ?
- Thực ra những món đó dùng để dẫn dắt con người từng bước hướng đến Thiện. Đầu tiên, phải tránh giết hại súc vật tức là thực hành ăn chay. Nhưng khi ăn chay người ta vẫn còn cảm giác thích những thứ đó nên căn cứ vào những đồ ăn này mà tạm làm thức có hình thù như vậy. Vả lại, những hình thù đó dễ gọi tên món hơn.
Khi cúng nguời chết nhận được còn nhận thế nào là do tâm của người cúng. Điều này rất nhiều sách vở trong và ngoài nước đã nói đến.

Bạch thầy. Tôi nghe nói cúng rằm tháng Bảy ngoài ý nghĩ tưởng nhớ đến người thân của mình còn phải làm thủ tục với những linh hồn chúng sinh không nơi nương tựa ở gần nhà mình ở. Vậy nghi lễ cúng chúng sinh như thế nào ? Nhờ thầy chỉ giáo giúp. Xin trân trọng cảm ơn..
- Một trong thủ tục quan trọng nhất của cúng rằm tháng 7 đó là cúng các linh hồn chúng sinh không nơi nương tựa ở gần nhà mình. Về nghi lễ thì trong kinh của Nhà Phật có một bài kinh cúng chúng sinh tên gọi là: cúng cháo. Bạn có thể mua cuốn "Chư kinh nhật tụng" để tìm đọc.

Xin Đại đức vui lòng trả lời con những thắc mắc sau: Thủ tục cúng rằm tháng Bảy như thế nào? Có nhất thiết phải cúng trước 15 hay đúng ngày 15 ? Tục lế đốt quần áo như thế nào và tại sao phải cúng chúng sinh? Con xin trân trọng cảm ơn..
- Có thể cúng từ ngày 1-15/7 âm lịch đều được. Lế đốt quần áo theo từng phong tục địa phương khác nhau.
Cúng chúng sinh biểu hiện tinh thần vị tha vì ngay đến những người không có quan hệ họ hàng với mình mà còn cúng huống chi anh em cha mẹ hoặc những người có quan hệ khác. Hơn nữa, đạo Phật cho rằng, những chúng sinh không nơi nương tựa đó rất mong muốn những ngày này được nguời sống trên dương thế nghĩ đến và cúng mình.

Thưa Đại Đức, là trụ trì một chùa lớn ở Hà Nội, ông thấy nên hay không nên khi dân mình càng ngày càng chú trọng lễ bái như vậy? Theo ông, vào dịp Rằm tháng bảy chúng ta nên cúng lễ như thế nào để thể hiện được ý muốn báo ân, báo hiếu đối với những người thân đã ra đi ? Tôi muốn gửi cho bố mệ tôi một ngôi nhà to bằng giấy có được không? Như vậy có bị coi là mê tín không ?
- Đương nhiên tôi rất thích khi nhiều người đến chùa vì đó chứng tỏ người ta đã và đang hướng thiện mà Đạo Phật là biểu tượng của Thiện. Nên gửi cho bố mẹ một ngôi nhà bằng giấy. Làm như vậy không gọi là mê tín vì gửi xong, tâm của mình sẽ rất thanh thản.

Bạch Thầy, Ba mẹ của con vừa mất, con muốn làm một điều gì đó dể ba mẹ sớm được siêu thoát nhân lễ Vu Lan. Kính mong Thầy chỉ cho !
- Tôi khuyên bạn tốt nhất đến chùa gần nơi bạn ở, thỉnh cầu các vị sư ở chùa đó làm lễ cầu siêu thoát đặc biệt là vào dịp Rằm tháng Bảy này thì càng có hiệu nghiệm hơn.

Thưa Đại đức, cháu là một sinh viên đang học ở nước ngoài, bố cháu mất lâu rồi, cháu muốn nhân ngày Rằm tháng 7 này tạ lễ công ơn cho bố nhưng ở nước ngoài người ta không thờ Phật, cháu nên làm gì? Xin Đại đức chỉ bảo. Cháu xin cảm ơn rất nhiều.
- Trong dịp Rằm tháng 7 này, cháu nên mua một số thứ mà bố cháu khi sống ưa thích đặt vào nơi trang trọng trong căn hộ của cháu đang ở và ngồi tại chỗ để tâm niệm tưởng nhớ tới bố và tôi tin chắc rằng bố cháu sẽ cảm nhận được lòng hiếu đễ của cháu. Nhân ngày này, cháu hãy nhớ lại khi bố còn sống có những đức hạnh cao đẹp gì thì cháu nên phát huy. Chắc chắn bố cháu sẽ vui mừng hơn nhiều.

Trong ngày Rằm tháng Bảy, người ta nên kiêng điều gì ?
- Những điều cần kiêng trong Rằm tháng 7 thì cũng là những điều nên kiêng trong cả năm.Kị nhất là cưới hỏi,mua đất dụng nhà.... Lời khuyên chung vẫn là: tránh làm điều ác, giúp đỡ mọi người.

Kính bạch Đại đức, cho con xin hỏi quan điểm như thế nào về tục lệ đốt vàng mã ?
- Vàng mã ra đời là một sự nhân đạo hơn bất kỳ một sự nhân đạo khác trong thời kỳ cổ đại. Sử chép rằng, ngày xưa khi vua quan Trung Quốc mất đi thì chôn theo không bíêt bao nhiêu người hầu, kẻ hạ và những vật dùng quý báu khác để mong cầu khi xuống cõi âm cũng được hưởng ở cõi dương. Tục lệ đó gọi là Tuẫn táng. Trong đó, không biết bao nhiêu nhân tài của đất nước bị chôn theo. Trước cảnh đó, người ta nghĩ ra những hình nhân, vàng mã quần áo bằng giấy hoặc rơm để thay thế cho những người và đồ vật chôn theo như trước. Vì thế, vàng mã ra đời đã cứu vớt những người và của cải trên.

Khi lên chùa tham dự lễ, có cần phải mua gì để cúng lễ ?
- Không nhất thiết ! Chỉ cần đứng trước các ban thờ mà tâm hướng thiện là được.

Bạch Thầy, vì sao phật giáo ta lại chọn ngày rằm tháng bảy là ngày vong ơn xá tội , sao người ta kô chọn ngày rằm của tháng khác.
- Rằm tháng bảy là ngày vong ơn xá tội như tôi đã nói. Rằm tháng giêng để cúng cho người sống, rằm tháng Bảy cầu siêu cho người chết.

Kinh bach thay , nguoi Phat tu phai hieu cai chet nhu the nao moi dung a ?
- Theo quan điểm của đạo Phật, chết không phải là hết, mà chỉ là kết thúc một giai đoạn, một mắt xích trong xích vô cùng vô tận.

(Lược lại một số câu hỏi do chúng dân gởi đến Đại đức Thích Thanh Quyết - Vietnamnet)

Tháng 7 âm lịch, người Việt có một ngày lễ mà giới tăng ni Phật tử thường gọi là ngày lễ Vu Lan. Đây là một đại lễ báo hiếu cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã khuất – một tập tục đáng quý, đáng trọng của người Việt, thể hiện tấm lòng “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Rằm tháng 7 Âm lịch cũng là ngày xá tội vong nhân mà dân gian gọi nôm na là ngày cúng chúng sinh.

Tháng 7 còn là tháng mưa Ngâu – gắn với sự tích ông Ngâu bà Ngâu hay còn gọi là tích Ngưu Lang - Chức Nữ.

Chúng ta cùng tìm hiểu về những sự tích, tập tục đầy tính nhân văn này nhé !

Xuất xứ lễ Vu Lan

Xuất phát từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) - cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.

Theo kinh Vu Lan thì ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẫu thân ông là bà Thanh Đề đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi tranh không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng thức ăn đã hóa thành lửa đỏ.

Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: "dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để vận động chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó".

Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu Lan Bồn Pháp). Từ đó ngày lễ Vu Lan ra đời.

Sự tích ngày xá tội vong nhân

Sự tích lễ cúng cô hồn như sau: Cứ theo "Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh" mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói: "Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên".

A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi Là "Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni", đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là Phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Vì tục cúng cô hồn bắt nguồn từ sự tích này, cho nên ngày nay người ta vẫn còn nói cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu. Có khi còn nói tắt thành Diệm khẩu nữa. Diệm khẩu, từ cái nghĩa gốc là (quỷ) miệng lửa, nay lại có nghĩa là cúng cô hồn. Ðiều này góp phần xác nhận nguồn gốc của lễ cúng cô hồn mà chúng tôi đã trình bày trên đây. Phóng diệm khẩu mà nghĩa gốc là "thả quỷ miệng lửa", về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành "tha tội cho tất cả những người chết". Vì vậy, ngày nay mới có câu : "Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân".

Nhưng lễ cúng cô hồn khác với lễ Vu Lan dù được cử hành trong cùng Ngày Rằm. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ nhiều đời được siêu thoát, một đằng là để bố thí thức ăn cho những vong hồn chưa được siêu thoát, những vong hồn không nơi nương tựa, không người cúng kiếng.

Sự tích Ngưu Lang – Chức Nữ

Thuở xưa, có vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng tên là Ngưu Lang, vì say mê nhan sắc của một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bễ việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc dệt vải. Ngọc Hoàng thượng đế giận giữ, bắt cả hai phải ở cách xa nhau, người đầu sông Ngân, kẻ cuối sông.

Nhưng về sau, Ngọc Hoàng nghĩ lại, thương tình nên ra ơn cho Ngưu Lang và Chức Nữ mỗi năm được gặp nhau một lần vào đêm mùng 7 tháng Bảy âm lịch. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt. Nước mắt của họ rơi xuống trần hoá thành cơn mưa và được người dưới trần gian đặt tên là mưa ngâu(thông thường vào tháng Bảy âm lịch) và gọi họ là ông Ngâu bà Ngâu.

Thời bấy giờ sông Ngân trên thiên đình không có một cây cầu nào cả nên Ngọc Hoàng mới ra lệnh cho làm cầu để Ngưu Lang và Chức Nữ được gặp nhau. Các phường thợ mộc ở trần thế được vời lên trời để xây cầu. Các phường thợ mộc mạnh ai nấy làm, không ai nghe ai. Kẻ muốn làm kiểu này, người muốn làm kiểu kia, cãi nhau chí chóe. Đến kỳ hạn mà cầu vẫn không xong. Ngọc Hoàng bực tức, bắt tội các phường thợ mộc hóa kiếp làm quạ lấy đầu sắp lại làm cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau.

Bị hoá làm quạ, các phường thợ mộc lại càng giận nhau hơn. Vì thế cứ tới tháng bảy là loài quạ phải họp nhau lại để chuẩn bị lên trời bắc Ô kiều. Khi gặp nhau, nhớ lại chuyện xưa nên chúng lại lao vào cắn mổ nhau đến xác xơ lông cánh.

Ngưu Lang và Chức Nữ lên cầu, nhìn xuống thấy một đám đen lúc nhúc ở dưới chân thì lấy làm gớm ghiếc, mới ra lệnh cho đàn chim ô thước mỗi khi lên trời làm cầu thì phải nhổ sạch lông đầu. Từ đó, cứ tới tháng bảy thì loài quạ lông thì xơ xác, đầu thì rụng hết lông.

Có dị bản khác cho rằng tên gọi của Ô kiều là cầu Ô Thước do chim Ô (quạ) và chim Thước (chim Khách) kết cánh tạo ra.

Ý nghĩa lễ Bông hồng cài áo

"Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa".

(Theo tản văn Bông hồng cài áo của Thiền sư Thích Nhất Hạnh)
(Tổng hợp từ nhiều nguồn)

Bài này gửi mọi người xem để hết lấn cấn việc nên cúng hay không cúng....

matbuon
01-09-09, 10:36
Coi bói đê! Muốn xem sinh con năm nào tốt . thì hỏi tớ nhá
Chỉ xem chi nữ thội hề hề
Cho biết năm sinh của mẹ _năm sinh của con (nếu lớ sinh rồi ) và định sinh tiếp năm nào . Hỏi tớ nhé ! Tớ xem miễn phí cho

ha tay que lua
21-10-09, 10:04
Coi bói đê! Muốn xem sinh con năm nào tốt . thì hỏi tớ nhá
Chỉ xem chi nữ thội hề hề
Cho biết năm sinh của mẹ _năm sinh của con (nếu lớ sinh rồi ) và định sinh tiếp năm nào . Hỏi tớ nhé ! Tớ xem miễn phí cho

xem giúp mình nhé. dự tính năm 2012 sinh em bé, muốn chơi vài năm đã, mẹ năm tân dậu
cảm ơn

no_rain
21-10-09, 21:20
Coi bói đê! Muốn xem sinh con năm nào tốt . thì hỏi tớ nhá
Chỉ xem chi nữ thội hề hề
Cho biết năm sinh của mẹ _năm sinh của con (nếu lớ sinh rồi ) và định sinh tiếp năm nào . Hỏi tớ nhé ! Tớ xem miễn phí cho
Xem hộ tớ sinh con năm nào thì hợp vợi Tớ sinh năm 76, xem cả tuổi con và tuổi bố nữa nhé để tớ còn đi kiếm bố cho con<:-P

Cafemotminh
21-10-09, 21:28
Xem hộ tớ sinh con năm nào thì hợp vợi Tớ sinh năm 76, xem cả tuổi con và tuổi bố nữa nhé để tớ còn đi kiếm bố cho con<:-P

Tớ biết này ! No_rain sinh năm 76 hợp với chồng sinh năm 60 ;)) Nếu đẻ con tháng 9 năm Kỷ Sửu là rất đẹp, sẽ được quý tử.%%-(%)

T.S.G
21-10-09, 22:52
Tớ biết này ! No_rain sinh năm 76 hợp với chồng sinh năm 60 ;)) Nếu đẻ con tháng 9 năm Kỷ Sửu là rất đẹp, sẽ được quý tử.%%-(%)
Bác ui - Bác nhanh thế, khi nào rổi bác vào nhập hội ở Lăng Ông Bà Chiểu nhá, kiếm cũng được khối đấy Bác ạ.
Cảm ơn Bác LC cung cấp thông tin hữu ích cho những ai muốn nghiên cứu.

moonhanoi
25-10-09, 22:40
Tết Cửu Trùng
Mồng 9 tháng 9 âm lịch là ngày tết Trùng Cửu một ngày tết truyền thống quan trọng trong dân gian TQ. Mỗi khi đến ngày này, mọi người đều dìu già dắt trẻ, đi leo núi, ngắm hoa cúc, còn cắm thủ dũ< một loại thực vật để làm thuốc có mùi thơm>, ăn bánh bò. Lấy ngày này gọi là tết Trùng cửu là vì người xưa lấy 9 là “số dương”, ngày 9 tháng 9 là 2 số 9, cũng tức là ngày trùng cửu. Về lai lịch của ngày tết Trùng cửu, có một truyền thuyết mang đậm màu sắc thần thoại.
Truyền thuyết kể rằng vào thế kỷ 3 trước công nguyên, lúc đó có một người thần thông quảng đại, tên là Phí Trường Phòng. Ông ta không những có thể cầu mưa, gọi gió, mà còn có thể đuổi thần, bắt ma. Có một người thanh niên tên là Hoàn Cảnh biết được tin này, rất tôn kính ông, xin ông nhận làm trò. Do người thanh niên này có quyết tâm rất lớn, ông Phí Trường Phòng đành phải nhận làm học trò, dạy anh thần phép. Có một hôm thầy nói với trò: “đến ngày 9 tháng 9, cả gia đình Cảnh sẽ gặp một nạn lớn, Cảnh phải chuẩn bị trước đi.” Hoàn Cảnh nghe vậy sợ hết hồn, liền quỳ xuống xin thầy dạy cho cách tránh tai qua, nạn khỏi. Phí Trường Phòng nói: “đến ngay 9 tháng 9, Cảnh làm mấy chiếc túi bằng vải đỏ, bỏ thủ dũ vào trong túirồi buộc vào cánh tay, mang theo ít rượu ngâm với hoa cúc, đưa cả nhà già trẻ, gái trai lên uống rượu trên một dốc cao. Như vậy sẽ tai qua, nạn khỏi. Hoàn Cảnh làm theo lời căn dặn của thầy. Đến sáng sớm ngày 9 tháng 9, Hoàn Cảnh đưa cả gia đình lên một dốc cao ở gần đó, bình an qua ngày hôm đó. Tối đến, Hoàn Cảnh và cả gia đình về đến nhà hết sức kinh ngạc nhìn thấy, trâu bò, cừu, chó, gàđều chết hết. Cả gia đình thực sự đã tránh được nạn. Từ đó, ngày trùng cửu trèo núi, cắm thủ dũ, uống rượu hoa cúc đã thành thói quen và lưu truyền hơn 2 nghìn năm.
TQ có một bài thơ cổ được lưu hành rộng khắp đã miêu tả tập tục của ngày tết Trùng cửu. Bài thơ này là tác phẩm nổi tiếng của Vương Duy nhà thơ lớn đời nhà Đường < 618-907 > với tựa đề: “mồng 9 tháng 9 nhớ anh em Sơn Đông”. Toàn thơ là : “Thân nơi đất khách là khách lạ,
Mỗi khi tết đến nhớ người thân,
Biết rằng anh em đi leo núi,
Cắm đầu Thủ hủ, thiếu mình tôi.”
Lúc đó, ông Vương Duy mới có mười mấy tuổi nơi đất khách BK, sao khỏi có đôi lúc nhớ nhà, nhất là mỗi dịp tết đến, thấy người khác gia đình đoàn tụ, khiến ông càng nhớ đến người thân> Mọi người lấy gạo nếp, kê, táo đỏ v,v, làm bánh hấp, trên còn cắm lá cờ nhỏ 5 màu, gọi là “bánh hhoa”. Những bà con sinh sống ở vùng đồng bằng, , ngày tết Trùng Cửu không có núi mà trèo, ăn bánh hoa với ngụ ý là đã trèo núi.
Trong thời cổ Tết Trùng Cửu còn có ý là “Trường thọ”. Bởi vì người ta cho rằng, những tập tục của tết Trùng Cửu”có thể khiến con người trường thọ”.
Ngày nay, vẫn giữ thói quen ngày tết Trùng Cửu đi trèo núi, ngắm hoa cúc, trong ngày ngày các cửa hàng cũng có bạn bánh hoa. Còn những năm gần đây, người ta còn lấy mồng 9 tháng 9 trong tiếng Hán đồng âm dài lâu, lấy ngày này làm ngày “tết của người già”, như vậy vừa bao gồm ý nghĩa vốn có của ngày tết Trùng Cửu, cũng biểu đạt lòng tôn kính người già của mọi người, chúc các cụ già mạnh khỏe, sống lâu.

moonhanoi
25-10-09, 23:26
Các anh các chị nào xem bói được cho em không nè. Gọi là Sư Phụ luôn.Lúc nào cũng đi sau hầu hạ luôn,,heeeee..31.10.1976:)@};-